Đấng Từ Bi Quan Thế Âm, tấm gương sáng của muôn đời

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 88 | Cật nhập lần cuối: 7/15/2017 8:12:15 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

Đấng Từ Bi Quan Thế Âm, tấm gương sáng của muôn đờiLòng từ huệ bao la lớn rộng
Đem tình thường sự sống sẻ chia
Trần gian vạn khổ còn kia
Lòng người Bồ Tát đâu lìa chúng sanh
(Đức Quan Âm)

Trong cái bể trầm luân khổ ải nơi cõi thế gian này từ trăm nghìn năm trước và sẽ tiếp mãi đến muôn đời danh hiệu Quan Thế Âm như đã ăn sâu vào lòng những thiện nam tín nữ, hầu như ai ai cũng biết đến Ngài và rất tôn kính Ngài vì Ngài đã thề nguyện vào tận chốn khổ đau để cứu vớt chúng sanh không hề phân biệt và cũng không có giới hạn nào.

Hôm nay ngày 19 tháng 6 Đinh Dậu (2017) cả không gian như tràn ngập Hồng quang Thiên Điển của Ngài.

Nơi Hội trường này nhân giây phút trang trọng với bầu không khí trang nghiêm tràn đầy ân lành của Đức Bồ Tát, tất cả chúng ta với tấc lòng thành kính dâng nén tâm hương hướng về Ngài. Lòng nguyện theo làn khói hương nghi ngút để xưng tụng công đức vô lượng của Đấng Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.

Lòng Đại Từ Đại Bi của Đức Quan Thế Âm được linh ứng mọi lúc mọi nơi.

I. LÒNG TỪ HUỆ BAO LA LỚN RỘNG

1. Từ thuở thật xa xưa khi còn là phàm nhân

Kinh Bi Hoa có ghi rằng:

“Lòng Đại Từ Đại Bi đã sẵn có từ thuở thật xa xưa (số kiếp nhiều như số cát sông Hằng), Ngài đã thệ nguyện rồi: Đức Quan Thế Âm khi chưa xuất gia tu hành, Ngài đã có thiện căn rất lớn, tấm lòng từ huệ thật quảng đại…

Vị Thái tử này đối diện trước Đức Phật Bảo Tạng, suy nghĩ hồi lâu rồi thưa rằng:

“Tôi nguyện trong khi tôi tu những điều công hạnh Bồ Tát và những việc ích lợi cho chúng sanh, nếu tôi biết được có kẻ găp khốn khổ hiểm nghèo không biết cậy vào ai mà có lòng xưng niệm danh hiệu tôi thì tức thời tôi dùng phép Thiên Nhĩ thông mà lắng nghe tiếng kêu cứu điều chi, rồi lại dùng phép Thiên Nhãn thông mà quan sát kẻ mắc nạn ở chỗ nào, đặng tôi liền thị hiện mà cứu độ.

Nếu chẳng đặng lời thệ nguyện đó, thì tôi không thành Phật.”

Đức Phật Bảo Tạng nghe lời đại nguyện ấy liền thọ ký cho vị Thái Tử rằng:

“Ngươi có lòng soi xét những điều yêu cầu nơi thế gian mà cứu khổ như vậy, nên nay Ta đặt danh hiệu cho ngươi là QUAN THẾ ÂM.”

Quan: quan sát, xem xét

Thế: cõi thế gian

Âm: âm thanh, tiếng kêu cứu của chúng sanh.

Câu niệm danh hiệu Ngài cũng rất nhiều, có câu:

Nam Mô Vạn Ức Tử Kim Thân Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

2. Ngài giáng trần 2 kiếp chót

Việc độ đời của Ngài luôn tùy theo hoàn cảnh, căn trí của chúng sanh mà thị hiện khi thân nam, lúc thân nữ, kiếp nghèo hèn, kiếp sang giàu…

Theo Thánh Kinh Hiền truyện xưa để lại, Ngài đã phân thân giáng trần 33 kiếp.

Hiện nay nhơn sanh còn truyền tụng 2 kiếp sau cùng giáng trần làm thân nữ được phố biến rộng rãi hơn hết.

a. Về sự tích nàng Thị Kính

Chư vị từng nghe nói đến nổi hàm oan bị gắn cho tội vợ mưu sát chồng của một thục nữ, một hiền phụ như nàng lại có đức hạnh đoan chính. Khi cải nam trang vào chùa tu hành chân chính lại bị xem như một chú tiểu lỗi đạo rất nặng làm hoen ố cửa thiền.

Đối với xã hội thời xa xưa ấy, với tinh thần trọng nam khinh nữ thì không tội nào lớn bằng tội mưu sát chồng, cũng như không tội nào lớn bằng tội đã khép mình tu hành mà còn dụ dỗ người cho có đứa con rơi.

Thật là nỗi oan ức tột cùng chất ngất trong lòng vì tiếng đời nguyền rủa ê chề, chịu roi vọt đau đớn, vẫn một lòng cam chịu đựng nghịch cảnh, vượt thử thách nhẫn nhục không hề phàn nàn, từ đó chúng ta thấy được:

- Lòng từ bi cao thượng: Không thố lộ tội của Thị Mầu gán cho mình khi bị hình phạt.

- Lòng nhân ái: nuôi con của người hại mình.

- Tâm hướng thượng cao cả: giữ bí mật là nữ giới để được tiếp tục trọn đường tu hành của Sải Kỉnh Tâm.

- Tự thắng bản thân: dù chịu cực khổ, đau đớn thân xác, nhục nhã ê chề, mất bao sức lực thời gian để nuôi đứa trẻ, nhưng tinh thần tu học của nàng vẫn sáng suốt, dũng mãnh chiến đấu nội tâm không chùn bước, vẫn nhứt tâm tu tiến đạo hạnh.

b. Về tích nàng Công chúa Diệu Thiện

Ở kiếp chót này Ngài phải thi gan với một cuộc thử thách nội tâm dữ dội chỉ vì một nàng công chúa muốn đi tu nhưng phụ vương nhứt quyết không chịu, nên nàng bị đày đọa đủ điều đến nổi bị đốt chùa không cho tu, thân còn bị đánh đập đến máu đổ thịt rơi.

Cuối cùng với đức tin dõng mãnh và lòng hiếu thảo vô bờ bến, công chúa đã cảm hóa được song thân khi chứng quả Bồ Đề.

- Tâm từ hòa, chịu đựng không phàn nàn dù bị nghịch cảnh thật khủng khiếp.

- Cuối cùng vẫn là lòng nhân hậu sẵn có nên nàng công chúa hiếu thảo đã độ được song thân.

II. ĐEM TÌNH THƯƠNG SỰ SỐNG SẺ CHIA

Hạnh Đại Từ Đại Bi của Đức Quan Âm Bồ Tát được thể hiện qua 12 lời đại nguyện khi Ngài vừa đắc quả vị Bồ Tát được kể như sau:

• Lời nguyện thứ 1: Lời phát nguyện rộng rãi, độ khắp chúng sanh, không có sự phân biệt.

• Lời nguyện thứ 2: nguyện rằng hễ ai hướng về Nam Hải thành tâm cầu nguyện thì Ngài sẽ tìm đến nơi để dẫn độ.

• Lời nguyện thứ 3: Nguyện rằng chúng sanh ở cõi Ta Bà hay cõi U minh mà có lời cầu nguyện Ngài sẽ đến nơi để cứu độ.

• Lời nguyện thứ 4: Nguyện sẽ đến những nơi nguy hiểm để loại trừ tà ma yêu quái nhiễu hại dân lành khi có tiếng kêu cầu cứu.

• Lời nguyện thứ 5: Nguyện dùng nước Cam Lồ thanh tịnh hoán cải, an ủi tâm hồn người đau khổ.

• Lời nguyện thứ 6: Nguyện đem lòng từ bi hỉ xả cứu độ nhân sanh, không phân biệt giàu nghèo sang hèn.

• Lời nguyện thứ 7: Nguyện ngày đêm tuần du khắp chốn, đến cả cõi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh để độ rỗi chúng sanh khỏi vòng khổ đau.

• Lời nguyện thứ 8: chuyên cần lễ bái thì Ngài sẽ đến để giải thoát khỏi gông cùm xiềng xích.

• Lời nguyện thứ 9: Nguyện tạo thuyền Bác Nhã tuần du bể trầm luân để tận độ chúng sanh.

• Lời nguyện thứ 10: Nguyện tự tay cầm phướn tràng phan, bảo cái để tiếp dẫn hồn kẻ từ trần đến cõi Tây Phương Cực Lạc.

• Lời nguyện thứ 11: Nguyện tiếp dẫn những linh hồn được cứu rỗi đến cảnh giới A Di Đà.

• Lời nguyện thứ 12: Nguyện sẽ thực hành đoan nghiêm 12 lời nguyện trên.

Dầu cho vạn khổ thiên lao,
Trải vô lượng kiếp ra vào thế nhân
Ở trần mà chẳng nhiễm trần,
Mười hai đại nguyện trải thân độ đời.
(Đức Quan Âm)

Ngài đã thị hiện và thị hiện thật nhiều với lời thệ nguyện trên.

Cách nay đã rất lâu, tại đất Trường an (nay là Thiểm Tây),Hội Kinh, có một vị đạo sĩ thường mang thuốc đến các vùng ven biển để rao bán. Nhưng lạ thay! Bất cứ ai uống thuốc của ông đều bị ngộ độc mà chết. Rồi một ngày kia, lại có một đạo nhân khác, không biết từ đâu đến, tìm gặp vị đạo sĩ bán thuốc và dùng uy lực làm cho ông này hiện hình thành một con trăn độc. Bấy giờ, dân Trường An mới vỡ lẽ rằng nguyên lai đạo sĩ bán thuốc là một con trăn độc đã tu hành lâu năm nhưng chưa được thành chánh quả. Nhân một niệm sân giận nổi lên, nó bèn hóa thành một đạo sĩ, lần theo phía Nam núi Ngũ Nhạc để đến Trường An ám hại dân lành. Vị đạo nhân, sau khi đã hàng phục tà ma yêu quái, đã lặng lẽ lên Ngũ Đài Sơn, cất một am nhỏ bằng cỏ tranh để sống tạm qua ngày và từ chối tất cả sự cúng dường, tạ ơn của dân Trường An.

Ít lâu sau đó, vào một buổi thiền định, vị đạo nhân này đã dùng lửa Tam Muội tự thiêu hủy hình hài huyết nhục của mình. Anh hào quang từ nơi Ngài ngự soi sáng khắp đất Trường An. Và mọi người ở đây đều tận mắt nhìn thấy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra từ nơi ánh sáng đó. Ngày hôm ấy là ngày 19 tháng 6. Và người ta đã truyền nhau xem ngày này là ngày thành đạo của Đức Bồ Tát.

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát không phải chỉ mới thành đạo lúc đó, mà Ngài đã đắc quả vị Phật từ rất lâu xưa, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì thế, Ngài thường được xưng tụng là Quan Âm Như Lai hay Quan Âm Cổ Phật. Dù đã thành Phật, nhưng vì lòng Đại Từ Đại Bi thương xót chúng sanh đang trong nơi biển khổ trầm luân sanh tử nên Ngài đã nguyện trở lại thế gian, thị hiện thân Bồ Tát để cứu độ chúng sanh với 12 lời đại nguyện như trên.

III. TRẦN GIAN VẠN KHỔ CÒN KIA

Đặc biệt ai ai cũng biết bài Kinh Cứu Khổ của Đức Quan Âm rất linh ứng khi người đọc đang gặp khổ nạn lại với tâm thành kêu cứu là Ngài tầm thinh cứu nạn liền.

Bài Kinh có ý như sau:

(Phần ý nghĩa bài kinh được giải theo quyển “Kinh Cứu Khổ trong đạo Cao Đài” của Đạo huynh Huệ Khải).

Câu 1: Nam mô đại từ đại bi quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát.Xin vâng theo Đức Bồ Tát Quan Thế Âm đại từ, đại bi, quảng đại, linh cảm.

Câu 2: Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, bá thiên vạn ức Phật, hằng hà sa số Phật, vô lượng công đức Phật. Xin vâng theo Đức Bồ Tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn, vô số Phật, các vị Phật có công đức lớn đến mức không thể đo lường được.

Câu 3: Phật cáo A Nan ngôn: Thử kinh đại thánh, năng cứu ngục tù, năng cứu trọng bịnh, năng cứu tam tai bá nạn khổ: Phật bảo A Nan rằng kinh này rất mầu nhiệm, có thể cứu người thoát khỏi cảnh ngục tù, có thể cứu người thoát khỏi trọng bịnh, có thể cứu người thoát khỏi ba tai ách (lửa cháy, nước lụt, bão tố) và vô số tai nạn, đau khổ.

Câu 4: Nhược hữu nhơn tụng đắc nhứt thiên biến, nhứt thân ly khổ nạn; tụng đắc nhứt vạn biến, hiệp gia ly khổ nạn: Nếu có người tụng kinh này được một ngàn lượt thì bản thân người ấy thoát khỏi đau khổ và tai nạn; tụng được mười ngàn lượt thì người ấy cùng với những người trong nhà đều thoát khỏi đau khổ và tai nạn.

Câu 5: Nam mô Phật lực oai, nam mô Phật lực hộ, sử nhơn vô ác tâm, linh nhơn thân đắc độ: xin nương theo oai lực Phật, xin nương nhờ sức cứu giúp của Phật, xin khiến cho con người không có lòng ác, xin khiến cho con người được cứu độ.

Câu 6: Hồi quang bồ tát, hồi thiện bồ tát, a nậu đại thiên vương, chánh điện bồ tát, ma kheo ma kheo, thanh tịnh tỳ kheo, quan sự đắc tán, tụng sự đắc hưu: Người tu đại thừa biết soi xét bản thân mà từ bỏ chỗ tối tăm sai lầm, người tu đại thừa biết trở về với điều thiện, người tu đại thừa giống như các bậc đại thiên vương cao tột biết bảo trọng chánh pháp và nơi tôn nghiêm thờ tự, người tu đại thừa biết giữ gìn trọn vẹn các qui giới và nhờ thế mà đức hạnh trong sạch [tất cả các vị ấy] đều khỏi vướng mắc vào những việc kiện thưa, tranh chấp.

Câu 7: Chư đại bồ tát, ngũ bá a la hớn, cứu hộ đệ tử nhứt thân ly khổ nạn:Cầu xin các vị Đại Bồ Tát và năm trăm vị A La Hán hãy cứu giúp một thân này của đệ tử được thoát khỏi đau khổ và tai nạn.

Câu 8: Tự ngôn Quan Thế Âm, anh lạc bất tu giải, cần đọc thiên vạn biến, tai nạn tự nhiên đắc giải thoát, tín thọ phụng hành: Tự mình niệm hồng danh hay đọc thần chú của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, thì không nên giải thích, cứ siêng chăm tụng kinh mãi thì tự nhiên sẽ được giải thoát khỏi mọi tai nạn, hãy tin tưởng nhận lãnh và vâng lời làm theo lời dạy này.

Câu 9. Tức thuyết chơn ngôn viết: Kim bà kim bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha la đế,tì lê ni đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha: Lập tức đọc thần chú rằng: Kim bà kim bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ni đế, ni ha la đế,tì lê ni đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha.

IV. LÒNG NGƯỜI BỒ TÁT ĐÂU LÌA CHÚNG SANH

Nói sức thần thông quảng đại và tấm lòng từ bi vô bờ bến của Ngài rõ ràng con đò cứu khổ của Ngài không ngớt tay chèo, không khổ nào chẳng vớt, không cõi nước nào Ngài chẳng hiện thân.

Đến thời Tam Kỳ Phổ Độ, cũng không vắng bóng Ngài.

Ngài đứng trong hàng Tam Trấn Oai Nghiêm trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

- Nhứt Trấn Oai Nghiêm: Đức Lý Đại Tiên Trưởng Thái Bạch Kim Tinh.

- Nhị Trấn Oai Nghiêm: Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

- Tam Trấn Oai Nghiêm: Đức Quan Thánh Đế Quân.

***

Ngài luôn chăm sóc Nữ phái Đại Đạo, hiện Ngài đang giữ trách nhiệm do Đức Mẹ ân ban.

Với Nữ Phái Ngài là Chủ tịch Hội Đồng Chư Thánh Mẫu Nữ Vương, gồm:

Việt Nam Thánh Nữ Trưng Vương.
Liên Hoa Thánh Mẫu mở đường khai thông
Vân Hương Thánh Mẫu hội đồng
Lê Sơn Thánh Mẫu cứu vòng nạn tai.
Quan Âm Nam Hải Như Lai,
Giáng cơ độ thế rộng khai pháp quyền.
Đàn trung ai hỡi thiện duyên
Lóng nghe bí pháp mật truyền nơi tâm.
(Đức Quan Âm – 1974)

Khi dạy Đạo cho chư tín đồ Đại Đạo Ngài đã nhắc lại và xác nhận rằng:

“Bần Đạo đây trải bao nhiêu kiếp khi thân nam, lúc thân nữ, kiếp giàu, kiếp nghèo, kiếp làm nô lệ, kiếp làm công chúa nhưng mỗi kiếp giữ một tâm hồn giải thoát giác ngộ, không mê muội hồng trần”.

Với 12 đại nguyện Ngài cũng xác nhận:

“Khi Bần Đạo còn sanh tiền tu đắc quả Bồ Tát phát thập nhị nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh, nguyện rằng:

Còn thấy một vật nào còn đau khổ thì Bần Đạo thề quyết không nhập Niết Ban để hưởng an lạc ích kỷ được”.

Đức Quan Âm dạy người tu hành Đại Đạo phải có lòng vị tha xả kỷ, quên mình vì người như sau:

“Như Bần Đạo đây, tu để đền đáp phần công ơn Thiêng Liêng là nguồn gốc Tiên Thiên mới có Tổ tiên, cha mẹ sanh ta ra phải biết tu để đền đáp.

Như kiếp chót của Bần Đạo gặp nghịch cảnh Phụ Vương chưa giác ngộ, đày đọa Bần Đạo truân chuyên lắm lúc trong sự tu hành, nhưng nhờ quyết chí có chư Thần hộ trợ giúp đỡ công việc nặng nhọc được an toàn.

Đến ngày cuối cùng của Phụ Vương thì Bần Đạo đắc pháp mầu nhiệm trở về cứu khổ cứu nạn cho song thân, cho chị em đồng bào trong nước.

Đó có phải chăng người chân tu trước lo nguồn gốc Tiên Thiên, kế tiếp những người kế cận là nguồn gốc Hậu Thiên huynh đệ, đồng bào và giúp phần cho Tổ quốc đất nước thanh bình, đem lại cảnh an lạc cho đồng bào sống theo đạo đức mới xứng đáng là bậc chân tu chánh nghĩa vậy.”

***

Nhìn chung Đấng Từ Bi đã trải dài tấm lòng thương chúng sanh là vô tận.

“Từ Bi: là mình phải biết bất nhẫn, thương tâm trước những sự đau khổ, nhục nhã của kẻ khác, cốt làm sao giác ngộ và tạo mọi hoàn cảnh để giúp kẻ khổ sớm thoát ra vòng tội lỗi đen tối.” (Đức Mẹ)

Vậy, Từ Bi là hạnh ban vui cứu khổ cho những người chung quanh mình, còn có nghĩa là khoan dung tha thứ không chấp nhất, không câu nệ.

Từ đó chúng sanh có thể hiểu được Ngài:

1. Lòng Đại Từ Bi đã sẵn có từ thuở thật xa xưa khi còn là phàm nhân.

2. Khi giáng trần làm Sải Kỉnh Tâm.
o Lòng Từ Bi rất cao thượng.
o Lòng nhân ái sâu sắc,chịu đựng nổi oan ức chất ngất.
o Tự thắng bản thân vượt mọi đau khổ.

3. Khi giáng trần làm công chúa.
o Lòng từ hòa chịu đựng.
o Lòng nhân hậu, hiếu thảo với cha mẹ.

4. Lòng Đại Từ Bi đã thực hiện 12 lời Đại nguyện thật đoan nghiêm.

5. Đặc biệt với ý nghĩa bài Kinh Cứu Khổ của Ngài đã giúp chúng sanh có một niềm tin tuyệt đối hướng về Ngài khi gặp chuyện đau khổ hoặc bệnh tật bản thân không thể giải quyết được.

6. Ngài cũng không rời chúng sanh đến tận bây giờ.

Thời Tam Kỳ Phổ Độ Ngài dạy rất nhiều trong việc tu hành cho những thiện nam tín nữ, nhất là sự quan tâm dạy dỗ của Ngài với Nữ phái Đại Đạo.

***

Tóm lại: Nhơn gian đã tôn kính và luôn tin tưởng nơi Ngài, bởi Ngài với uy lực vô cùng, thần thông vô tận Ngài đã giúp nhơn sanh nhiều không kể xiết.

Chúng ta học tấm gương sáng chói muôn đời của Ngài luôn quên mình vì người.

Chúng đệ tử đồng thành kính cúi lạy Đấng Đại Từ Đại Bi đã từng trải trăm nghìn kiếp nơi cõi ta bà, hóa thân khi nghe tiếng kêu cứu của chúng sanh liền giải khổ nạn thật nhiệm mầu, huyền diệu.

NAM MÔ VẠN ỨC TỪ KIM THÂN TẦM THINH CỨU KHỔ CỨU NẠN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT.

Giáo sĩ Kim Dung
Nguồn: nhipcaugiaoly.com