Tu đi, hãy sớm tu đi!

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 614 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

THI

Tu đi cho cạn nỗi căm hờn

Tu để giảm lần sự bất nhơn

Tu để đệ huynh như ruột thịt

Tu đi, siết chặt mối tình thương!


THI BÀI

Cuộc biến chuyển tuần huờn đã định

Luật công bình điều chỉnh thế gian

Xuống lên địa ngục, thiên đàng

Thánh siêu phàm đọa, lẽ hằng [1] xưa nay.

Thương người giữa trần ai bao phủ

Thương người cơn phong vũ [2] gian nguy

Thương người đạo đức tu trì [3]

Thương nên khuyên nhủ hãy ghi vào lòng.

Đã trót sanh trong vòng thế tục

Lại gặp hồi khuynh phúc [4] nước non

Hỡi ai! Ai xử sao tròn

Khi tình cốt nhục không còn thương yêu?

Kiếp nhơn sanh một chiều một sớm

Họa giống nòi ờ ỡm [5] mưu mô

Điêu ngoa mặt trái Hớn, Hồ

Cám thương kẻ gánh cơ đồ [6] ngày nay!

(…)

Kìa chánh đạo đang suy chánh pháp

Nọ giáo đồ [7] lung lạc [8] khách mê

Quanh chủ tướng, một lũ hề

Vẽ vời rồng rắn toan bề nhiễu nhương.

Hỡi ai chán nghề vương nghiệp bá

Hỡi ai không vì bả lợi danh [9]

Mà mong thiên hạ an bình

Hãy đem đạo đức gây tình chúng sanh.

Khắp vũ trụ Trời dành non nước

Chẳng phải tài với sức được đâu

Dù cho dân thứ, công hầu [10]

Trong cơ tiền định [11] chớ âu [12] lo lường.

Khuyên hãy giữ lập trường chánh đạo

Khuyên hãy gìn tiết tháo [13] lương tri [14]

Thà cam ăn ngọn rau vi [15]

Để nòi giống khỏi ai bi [16] đoạn trường.[17]

Khuyên chư đệ trên đường tu niệm

Hằng ngày luôn kiểm điểm thân tâm

Đạo mầu vô thượng [18] thậm thâm [19]

Vui đâu chúc đó, lạc lầm bàng môn.[20]

Lẽ thành bại vong tồn [21] thế sự

Cũng là điều lành dữ nghiệp duyên

Muốn về cảnh Phật nhà Tiên

Ngôi Thần vị Thánh, oan khiên [22] tránh chừa.

Nay trả nợ vì xưa vay nợ

Trước chưa tu, sau nhớ mà tu

Vượt ra bốn vách trần tù [23]

Mặc đời tráo chác, trí ngu [24] mặc đời.

Một niềm tin Đạo Trời cứu thế

Giữ chánh truyền, luật lệ nghiêm minh

Vô vi đề cập hữu hình

Song tu tánh mạng [25] siêu sinh thoát phàm.

(...)


THI

Công quả dành cho các đạo tâm

Ráng lên lập đức khỏi sai lầm

Tiền đồ [26] sẵn có người đưa đón

Một kiếp trau dồi hưởng vạn năm.


THI BÀI

Hãy hỷ lạc mà tầm chánh tín

Hít hà chi phú vịnh ca văn

Chấn hưng đạo đức tâm hằng [27]

Đạo Trời vạn đại [28] công bằng chở che.

Hãy liên kết bạn bè học Đạo

Hãy sưu tầm thánh giáo nhủ khuyên

Đâu đâu thì cũng Phật Tiên

Hoặc mê hoặc tỉnh, linh thiêng bởi mình.

Cơ phổ độ muôn hình vạn trạng [29]

Đừng chấp nê [30] ngao ngán dở hay

Đó là phương pháp cao dày

Tùy duyên hóa độ [31] ngày ngày sẽ nên.


 Tu đi, hãy sớm tu đi!


THI

Ơn Trời bủa khắp chẳng riêng ai

Tùy đức tùy công mỏng với dày

Nhắm bước thẳng đường đừng dụ dự [32]

Không không mà có cảnh Tiên đài.[33]


NGÂM

Lời Tiên dạy bảo khá dài

Ban ơn từ giã, Tiên đài đây lui.


Đức ĐÔNG PHƯƠNG CHƯỞNG QUẢN

Thiên Lý Đàn, 15-12 Giáp Thìn (17-01-1965)

 

CTCTATKSĐĐ, ĐẠI ĐẠO VĂN UYỂN - Tập Nguyên Nhâm Thìn,

 NXB Tôn Giáo, 2012, tr. 5-11.




[1] Lẽ hằng: Lẽ thường, nguyên lý bất di bất dịch tự nhiên của đất trời (permanent principle). Dù con người muốn hay không muốn thì nó vẫn diễn ra.

[2] Phong vũ (võ) 風雨: Gió và mưa, ám chỉ cảnh gian nan, khốn khổ, đầy thử thách (trials and hardship).

[3] Tu trì 修持: Tu hành không lơi lỏng. (Trì: Gìn giữ, nắm giữ.)

[4] Khuynh phúc 傾覆: Nghiêng lật, nghiêng đổ (to overturn).

[5] Ờ ỡm: Ỡm ờ, nói năng không nghiêm túc, không tin được.

[6] Cơ đồ 基圖: Việc quốc gia đại sự (state affairs).

[7] Giáo đồ 教徒: Tín đồ của một tôn giáo (adherent, disciple).

[8] Lung lạc: Lôi kéo vào chỗ sai trái (to entice, to tempt).

[9] Bả: Mồi độc để nhử (poison bait). Bả lợi danh: Danh lợi cám dỗ con người phạm lỗi, trái đạo lý, nên danh lợi giống như mồi độc.

[10] Dân thứ, công hầu: Dân thường và quan chức lớn.

[11] Cơ tiền định: Thiên cơ (kế hoạch của Trời) đã sắp đặt sẵn.

[12] Âu: Lo toan, lo lắng, âu lo (to worry).

[13] Tiết tháo 節操: Lòng trong sạch, ngay thẳng, không vì nguy khốn, danh lợi mà thay lòng đổi dạ (integrity, moral principle).

[14] Lương tri 良知: Lương tâm, tánh thiện tự nhiên như bản năng (conscience, instinctive moral sense).

[15] Rau vi 薇: Osmunda regalis.

Bá Di 伯夷 và Thúc Tề 叔齊 là con vua Á Vi 亞微 nước Cô Trúc (là chư hầu của vua Trụ nhà Thương). Khi Cơ Phát 姬發 mang quân đánh Trụ, hai anh em Bá Di và Thúc Tề cùng can gián, cho rằng Cơ Phát bất trung với nhà Thương (!). Cơ Phát lên ngôi thiên tử, lập ra nhà Chu, tức là Chu Vũ Vương. Bá Di và Thúc Tề xấu hổ vì đã can ngăn Cơ Phát diệt Trụ, nên thề không ăn thóc nhà Chu, bỏ lên núi Thú Dương ở ẩn, hái rau vi ăn. Có người bảo rau vi cũng mọc trên đất nhà Chu, hai ông bèn nhịn đói chịu chết trên núi Thú Dương. Văn học dùng hình tượng Bá Di, Thúc Tề để nói tới việc ở ẩn; và dùng hình tượng rau vi để nói tới tiết tháo của kẻ sĩ.

[16] Ai bi: Bi ai 悲哀, buồn rầu thê thảm (grieved, sorrowful).

[17] Đoạn trường 斷腸: Đứt ruột; cực kỳ đau thương (heartbroken).

[18] Vô thượng 無上: Cao tột, không còn gì cao hơn (supreme).

[19] Thậm thâm 甚深: Rất sâu (extremely profound).

[20] Bàng môn [tả đạo] 旁門[左道]: Các môn phái không phải là chánh giáo (heretical schools).

[21] Vong tồn 亡存: Mất còn (dead or alive, to die or survive)..

[22] Oan khiên 冤牽: Oan nghiệp 冤業, oan nghiệt 冤孽, những điều ngang trái dẫn dắt đến chỗ tội lỗi (injustice leading to sin).

[23] Bốn vách trần tù: Tứ đổ (tứ đổ tường) 四堵牆(墻); bốn thứ giam hãm con người, khiến con người mất tự do, giống như bị nhốt trong bốn vách (đổtường đều có nghĩa là vách tường). Đó là Tửu, sắc, tài, khí 酒色財氣 – rượu, sắc dục, tiền bạc, và ma túy (alcohol, sex, money, drugs).

[24] Trí ngu: Khôn dại (wise or dull).

[25] Song tu tánh mạng: Tánh mạng (tính mệnh) song tu 性命雙修, tu tánh (tính) luyện mạng (mệnh) 修性煉命. Tu tánh là tu tâm, bỏ thât tình lục dục, hành thiền (luyện thần), luyện mạng là dưỡng thân, đoạn trừ sắc dục (giữ gìn tinh, khí).

[26] Tiền đồ 前途: Con đường phía trước, ở trước mặt; tương lai tốt đẹp (good future, prospects)..

[27] Tâm hằng: Bền lòng, không thay lòng đổi dạ (consistent).

[28] Vạn đại 萬代: Muôn đời, mãi mãi (eternally, forever).

[29] Muôn hình vạn trạng: Cũng như thiên hình vạn trạng 千形萬狀 – vô số hình dạng (multitude of forms).

[30] Chấp nê 執泥: Cố chấp, chấp nhất, câu nệ.

[31] Tùy duyên hóa độ 隨缘化度: Tùy theo hoàn cảnh thích hợp mà giúp người bước vào đường tu hành (to convert a person to a religion depending on approriate circumstances).

[32] Dụ dự: Do dự, chần chờ (to hesitate).

[33] Tiên đài 仙臺: Đài Tiên, ám chỉ cõi Tiên (immortal heaven).

HUỆ KHẢI chú thích