Một cái nhìn về nghệ thuật thánh

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 453 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

Khi có dịp tham quan các ngôi đền thờ nổi tiếng ở Âu Châu, như nhà thờ Đức Bà Paris và nhất là đền thờ thánh Phêrô tại Rôma, người ta không khỏi trầm trồ thán phục sự vĩ đại, tính cổ kính, dấu tích lịch sử và nhất là giá trị nghệ thuật vô cùng to lớn vượt thời gian của chúng. Mỗi đền thờ là một kho tàng vô giá đầy ắp những tác phẩm nghệ thuật từ điêu khắc đến kiến trúc, hội họa, trang trí, do các nghệ sĩ nổi tiếng sáng tạo nên để diễn tả niềm tin và những tâm tình tôn giáo của cộng đồng dân Chúa trải qua chiều dài của dòng lịch sử. Người ta chiêm ngắm, nghiên cứu, tìm hiểu, nhưng không bao giờ có thể tát cạn ý nghĩa sâu xa và phong phú của chúng. Người ta gọi đó là kho tàng nghệ thuật thánh của Giáo Hội công giáo. Để có một cái nhìn về nghệ thuật thánh, chúng ta hãy dựa vào giáo huấn của Giáo Hội [1] để tìm hiểu ý nghĩa, mục đích và cách thức thể hiện của loại hình nghệ thuật này, sau khi thử lược qua khái niệm thánh thiêng và tương quan giữa thánh thiêng với nghệ thuật nói chung.

1. Khái niệm thánh thiêng

Trong văn hóa Tây phương, từ “thánh thiêng” hay “linh thánh” (lt. sacer, sacra, sacrum) thường được dùng theo hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, “thánh thiêng” là từ mà những người có tôn giáo dùng để chỉ chính Thiên Chúa, Đấng-hoàn-toàn-khác, Hữu-Thể-tuyệt-đối, Mãnh-lực-tối-cao. Những cách gọi này cho thấy một cảm nghiệm khôn tả về một Hữu Thể mà người ta gọi là Đấng Thánh hay Đấng Linh Thiêng. Con người tôn giáo cũng như mọi nền văn hóa mang tính tôn giáo đều được xác định ít nhất bằng nhận thức về Đấng Linh Thiêng hiện diện trong bầu trời, tinh tú, sông nước, thảo mộc, đất đá, v.v., nói chung trong tất cả những gì hiện hữu, như là một huyền nhiệm vừa hấp dẫn (mysterium fascinans) lại vừa đáng sợ (mysterium tremens). Sự thánh thiêng còn hiện diện nơi những gì thuộc về Đấng Linh Thiêng mà người ta quen gọi là các thực tại thánh. Tuy nhiên, trong cách hiểu của các dân tộc, cái thánh thiêng vừa có thể chỉ cái đáng kính, vừa có thể chỉ cái đáng sợ, như khi nói về các thần ác. Như thế cái thánh thiêng cho thấy một chiều kích tách biệt và dị nghĩa, vừa tốt vừa xấu. Trong Kitô giáo, cái thánh thiêng chỉ được hiểu theo nghĩa tốt và qui hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh.

Theo nghĩa thứ hai, “thánh thiêng” là từ dùng để chỉ một cái gì đó được dâng hiến cho thần linh, cho một mãnh lực cao siêu. Vì thế nó còn được dùng để chỉ những điều mà người ta không được xâm phạm, ngay cả không được đụng chạm đến. Từ này còn được dùng để chỉ những gì được tách riêng ra để dùng cho mục tiêu tôn giáo. Được coi là thánh thiêng những không gian và thời gian cử hành lễ tế, những đồ vật dùng trong nghi thức tôn giáo như ảnh tượng, đồ thờ, lễ phục, v.v. Vì thế, từ điển Le Petit Robert định nghĩa thánh thiêng là thuộc về một lãnh vực tách biệt, bất khả xâm phạm và là đối tượng của một tâm tình tôn kính mang tính tôn giáo; nó có liên quan đến việc thờ phượng và phụng vụ. Đối lại với thánh thiêng là phàm tục. Từ này trong tiếng La-tinh là profanum, có nghĩa là “trước” đền thờ hay bên ngoài khuôn viên đền thờ. Theo nghĩa rộng nhất, từ này chỉ những gì không thuộc về lãnh vực thánh thiêng.

Một cái nhìn về nghệ thuật thánh

Nhà thờ Notre-Dame de Paris (Ảnh: dulichsenvang.vn)

Theo Từ điển công giáo phổ thông của J.A. Hardon SJ, “thánh thiêng là những gì thuộc về Thiên Chúa, khác với những gì thuộc về con người; là những gì vĩnh cửu chứ không phải phù du; là những gì của thiên giới chứ không phải của hạ giới; là những gì huyền nhiệm và vì thế không thể giải thích được bằng lý trí; là những gì vô hạn chứ không phải hữu hạn. Tôn giáo nào cũng coi thánh thiêng mới là cái tuyệt đối, bất di bất dịch; còn phàm tục chỉ là cái tương đối, vốn hay thay đổi”. [2]

Tuy nhiên, trong các xã hội sơ khai, cái thánh thiêng và cái phàm tục ít khi tách rời nhau. Theo cha Teilhard de Chardin, không có gì trong thời gian và trong không gian là phàm tục cả. Toàn thể thế giới chúng ta đang sống là một đền thờ, một thứ bí tích của Thiên Chúa. Tu sĩ và nghệ sĩ giống nhau và liên kết với nhau trong viễn tượng này. Điều được nói về thế giới thì càng được nói về con người. Nếu toàn thể thế giới một cách nào đó có thể được coi là đền thờ, là bí tích của Thiên Chúa, thì con người càng là đền thờ và là bí tích của Thiên Chúa hơn nữa, bởi lẽ qua mầu nhiệm sáng tạo và nhập thể, con người là hình ảnh của Thiên Chúa và là nơi Thiên Chúa ngự trị, vì Ngài là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Mầu nhiệm của Thiên Chúa được phản ánh nơi mầu nhiệm con người. Vì thế con người cũng là một mầu nhiệm và do đó cũng mang tính thánh thiêng.

2. Nghệ thuật nói chung và sự thánh thiêng

Từ “nghệ thuật” trong nguyên ngữ Latinh (ars) vừa diễn tả một khả năng sáng tạo của con người, vừa được dùng để chỉ những kết quả do khả năng ấy tạo ra. Khi phát huy nghệ thuật cùng với các ngành khác như triết học, sử học, toán học, sinh vật học, v.v., con người có thể góp phần lớn lao vào công cuộc thăng tiến gia đình nhân loại để đạt tới những giá trị cao cả của chân, thiện, mỹ, và một phán đoán có giá trị phổ quát. [3]

Chân, thiện, mỹ, liên kết chặt chẽ với nhau, và trên bình diện hữu thể cả ba chỉ là một. Tất cả những gì chân thật và tốt lành đều đẹp. “Niềm vui tinh thần và vẻ đẹp luân lý đi đôi với việc thực thi điều thiện. Cũng vậy, chân lý đem lại niềm vui và ánh huy hoàng của vẻ đẹp tinh thần. Chân lý tự nó là đẹp”. [4] Theo một nghĩa nào đó, cái đẹp là biểu hiện hữu hình của sự thiện, còn sự thiện là điều kiện siêu hình của cái đẹp.

Trong Sứ điệp gửi toàn thể nhân loại nhân dịp bế mạc công đồng Vaticanô II, các nghị phụ đã khẳng định: “Thế giới chúng ta sống ngày nay đang cần đến cái đẹp để khỏi chìm đắm vào thất vọng. Cái đẹp cũng như chân lý mang lại niềm vui cho tâm hồn con người, đó chính là những hoa trái quí giá không tàn úa vì thời gian nhưng nối kết các thế hệ lại và làm cho họ thông cảm nhau khi thán phục nhau”. [5] Các nghệ sĩ: thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia, diễn viên, là “những người say mê và phục vụ cái đẹp”. [6]

Theo Sách Giáo lý của Hội Thánh công giáo, chân lý thường được diễn tả bằng lời nói, một sự diễn tả hữu lý của nhận thức về thực tại. Nhưng chân lý cũng có thể được diễn tả bằng những hình thức khác nhau để bổ túc cho nhau, nhất là khi vấn đề phải gợi lên lại bao hàm những điều khôn tả, những điều sâu thẳm của trái tim con người hay những điều huyền nhiệm của Thiên Chúa. Trước khi tự mạc khải cho con người bằng những lời chân lý, Thiên Chúa đã mạc khải cho họ qua ngôn ngữ hình ảnh là công trình tạo dựng với tất cả vẻ đẹp và trật tự hài hòa, “vì chính Đấng Tạo Hóa mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3). [7]

“Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,26), con người cũng diễn tả chân lý về tương quan của mình với Thiên Chúa Tạo Hóa bằng vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật của mình. Thật vậy, nghệ thuật là một hình thức diễn tả chỉ riêng con người mới có; vượt lên trên việc cố gắng thỏa mãn mọi nhu cầu sinh tồn, là điều chung của mọi sinh vật, nghệ thuật là sự đầy tràn chan chứa, được ban tặng cách nhưng không, sự giàu sang nội tâm của con người. Xuất phát từ tài năng do Đấng Tạo Hóa ban, và từ nỗ lực của chính con người, nghệ thuật là một hình thức của sự khôn ngoan thực tiễn, kết hợp kiến thức với tài khéo léo (x. Kn 7,17), để tạo hình thể cho chân lý của một thực tại, bằng thứ ngôn ngữ có thể cảm nhận được bằng mắt thấy và bằng tai nghe. Như vậy nghệ thuật bao hàm một sự tương tự nào đó với hoạt động của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng, theo mức độ nghệ thuật được gợi hứng bởi chân lý về vạn vật và lòng yêu mến vạn vật. Cũng như bất cứ hoạt động nào khác của con người, nghệ thuật không có mục đích tuyệt đối nơi chính nó, nhưng được qui hướng về con người và trở nên cao quí nhờ mục đích tối hậu là con người”. [8]

Đặc biệt trong Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi các nghệ sĩ, chúng ta đọc thấy như sau: “Bởi đó Thiên Chúa cho con người hiện hữu, giao cho con người nhiệm vụ của những nghệ sĩ. Chính qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật ấy mà hơn bao giờ hết con người cho thấy mình giống Thiên Chúa. Con người hoàn thành nhiệm vụ này xuất sắc nhất là khi uốn nắn chất thể kỳ diệu hay nhân tính của mình và khi thi hành quyền làm chủ