Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (3)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 1459 | Cật nhập lần cuối: 6/9/2016 3:31:33 PM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

(tiếp theo)

15. Trong thánh lễ, việc tái hiện có tính bí tích hy tế của Chúa Kitô được kiện toàn nhờ sự phục sinh của Ngài bao hàm một sự hiện diện hoàn toàn đặc biệt, mà – theo cách nói của Đức Phaolô VI – người ta gọi là “đích thực”, không phải với danh nghĩa độc hữu, như thể những cách hiện diện khác không phải là “đích thực”, nhưng theo cách nói hoán xưng, bởi vì sự hiện diện nầy là hiện diện bản thể và nhờ nó, Chúa Kitô, vừa là con người vừa là Thiên Chúa, hiện diện nguyên vẹn” (22). Như thế, giáo thuyết luôn có giá trị của Công Đồng Triđentinô được nhắc lại một lần nữa: “Nhờ việc truyền phép bánh và rượu, việc thay đổi tất cả bản thể của bánh thành bản thể của Mình Chúa Kitô, Chúa chúng ta và sự thay đổi tất cả bản thể của rượu thành bản thể của Máu Ngài; sự thay đổi nầy, Giáo Hội Công Giáo gọi một cách đúng đắn và chính xác là sự biến bản thể (transubstantiation)” (23). Thánh Thể thực sự là mầu nhiệm đức tin (mysterium fidei), mầu nhiệm vượt xa lý trí chúng ta và chỉ có thể được chấp nhận bằng đức tin mà thôi, như giáo lý của các giáo phụ đã thường nhắc đến về Bí Tích thần linh nầy. Thánh Cyrillô thành Giêrusalem khuyên dạy rằng: “Bạn đừng nhìn trong bánh và rượu những yếu tố thuần tuý tự nhiên, bởi vì Chúa đã nói rõ đó là Mình và Máu Người; đức tin bảo đảm cho bạn, mặc dù giác quan bạn trông thấy thể khác” (24).

Chúng ta sẽ tiếp tục hát với vị Tiến Sĩ thiên thần: “Con tôn thờ Chúa hết lòng, ôi Chúa ẩn mình” (Adoro Te devote, latens Deitas) . Đứng trước mầu nhiệm tình yêu nầy, lý trí nhân loại cảm nhận được sự hữu hạn của mình. Người ta hiểu tại sao trong nhiều thế kỷ, chân lý nầy đã được khoa thần học nổ lực thật nhiều để tìm hiểu.

Đó là những cố gắng đáng khen, chúng càng ích lợi và càng thâm sâu khi chúng kết hợp được tư duy có phê phán với “đức tin sống thực (la foi vécue) của Giáo Hội, được gồm tóm cách đặc biệt trong “đặc sủng chắc chắn về chân lý “của Huấn Quyền và trong “sự hiểu biết nội tâm những thực tại thiêng liêng” mà các thánh đều đạt đến (25). Dù sao cũng còn một ranh giới mà Đức Phaolô VI đã nêu rõ: “Khi tìm hiểu phần nào về mầu nhiệm nầy, để đúng với đức tin công giáo, tất cả mọi giải thích thần học phải nhận rằng, trong thực tếù không tùy thuộc vào lý trí chúng ta, bánh và rượu đã không còn nữa sau khi truyền phép, đến nỗi chính Mình và Máu đáng tôn thờ của Chúa chúng ta, lúc ấy, hiện diện thực sự trước mặt chúng ta dưới các hình bánh và rượu” (26).

Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (3)

16. Hiệu quả cứu độ của hy tế được thực hiện sung mãn trong việc hiệp lễ, khi chúng ta rước Mình và Máu Chúa. Hy Tế Thánh Thể tự nó hướng tới việc hiệp nhất thâm sâu của chúng ta là những tín hữu, với Chúa Kitô qua việc rước lễ: chúng ta nhận lấy chính Ngài, Đấng đã tự hiến cho chúng ta, chúng ta nhận lấy thân mình Ngài, thân mình mà Ngài đã nộp vì chúng ta trên Thập Giá, máu mà Ngài đã “đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Mt 26, 28). Hãy nhớ những lời của Ngài: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn lấy tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6, 57). Chính Chúa Giêsu đã bảo đảm với chúng ta rằng: một sự hiệp nhất như thế, mà Ngài so sánh tương tự như hiệp nhất trong đời sống Ba Ngôi, thực sự được thể hiện. Thánh Thể đích thực là một bữa tiệc, trong đó Chúa Kitô tự hiến làm của ăn. Khi Chúa Giêsu nói lần đầu tiên về thức ăn nầy, các thính giả của Ngài đều ngỡ ngàng và bối rối, đòi buộc Ngài phải nhấn mạnh đến chân lý khách quan của những lời Ngài: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6, 53). Đây không nói đến một của ăn theo cách tượng trưng: “Thịt tôi là của ăn thật, và máu tôi là của uống thật” (Ga 6, 55).

17. Qua việc thông hiệp vào Mình và Máu Ngài, Chúa Kitô cũng chuyển thông cho chúng ta Thánh Thần của Ngài. Thánh Ephrem viết: “Ngài gọi bánh là thân thể sống động của Ngài, Ngài đã cho nó tràn ngập chính bản thân Ngài và Thánh Thần của Ngài. [?] Và ai ăn lấy Ngài với niềm tin cũng ăn lấy Lửa và Thánh Thần [?] Tất cả hãy cầm lấy, hãy ăn lấy, và hãy ăn Chúa Thánh Thần cùng với Ngài. Đây chính là thân xác tôi và ai ăn lấy sẽ sống đời đời” (27). Trong lời xin ban Thánh Thần của kinh nguyện Thánh Thể, Giáo Hội nài xin Thánh Thần, nguồn suối của mọi hồng ân khác. Ví dụ người ta đọc thấy trong sách Phụng Vụ thần linh của thánh Gioan Kim Khẩu: “Chúng con kêu cầu Ngài, chúng con nguyện xin Ngài và chúng con khẩn nài Ngài: xin hãy sai Thánh Thần Chúa xuống trên tất cả chúng con và trên những của lễ nầy, [?] hầu những ai tham dự lãnh nhận được sự thanh tẩy tâm hồn và ơn tha tội và ân huệ của Chúa Thánh Thần” (28). Và trong Sách Lễ Rôma, chủ tế cầu xin: “Khi chúng con được Mình và Máu Con Cha nuôi dưỡng và được tràn đầy Thánh Thần của Ngài, xin cho chúng con được trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đưc Kitô” (29). Như thế, nhờ hồng ân Mình và Máu Ngài, Chúa Kitô làm tăng triển trong chúng ta, hồng ân của Thánh Thần Ngài, đã được lãnh nhận trong Bí Tích Rửa Tội, và được trao ban như “ấn tích” trong Bí Tích Thêm Sức.

18. Lời tung hô của dân chúng sau khi truyền phép kết thúc một cách rất thích hợp khi diễn tả chiều kích cánh chung đánh dấu trên việc Cử Hành Thánh Thể (x. 1Cr11, 26): “Chúng con đợi chờ Chúa trở lại trong vinh quang”. Bí Tích Thánh Thể là hướng đến điểm chung kết, tiền dự vào niềm vui sung mãn mà Chúa Kitô đã hứa (x. Ga 15, 11). Bí Tích Thánh Thể, theo một nghĩa nào đó, là sự nếm trước hương vị thiên đàng “bảo đảm cho vinh quang sẽ tới” (30). Trong Bí Tích Thánh Thể, tất cả đều diễn tả sự đợi chờ đầy tin tưởng nầy: “Chúng tôi mong ước niềm hạnh phúc mà Chúa hứa và sự quang lâm của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng tôi” (31). Ai nuôi mình bằng Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, không cần đợi chờ một thế giới bên kia để nhận lãnh sự sống đời đời, họ đã chiếm hữu nó ngay từ đời nầy, như hoa quả đầu mùa của sự sung mãn sẽ tới, liên hệ đến toàn thể con người. Thật vậy, trong Bí Tích Thánh Thể, chúng ta cũng nhận được sự bảo đảm về việc xác sống lại trong ngày sau hết: “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, người ấy sẽ sống đời đời, và tôi, tôi sẽ cho họ sống lại ngày sau hết” (Ga 6, 54). Bảo đảm ấy về sự phục sinh trong tương lai đến từ sự kiện là thịt của Con Người, được trao ban làm của ăn, là thân xác vinh quang của Đấng Phục Sinh. Có thể nói, với Bí Tích Thánh Thể, người ta như nắm được “bí quyết” của sự phục sinh. Vì thế, thánh Inhaxiô thành Antiôkia đã định nghĩa một cách hết sức chính xác Bánh Thánh Thể như “liều thuốc trường sinh, thuốc giải độc để khỏi phải chết” (32).

19. Chiều hướng cánh chung được Thánh Thể gợi lên, diễn tả và củng cố sự hiệp thông với Giáo Hội thiên quốc. Không phải ngẫu nhiên mà trong các kinh tạ ơn Đông Phương hay trong các kinh nguyện Thánh Thể la tinh, người ta kính nhớ một cách trang trọng Đức Maria, trọn đời đồng trinh, Mẹ của Chúa chúng ta, là Chúa Giêsu Kitô, các thiên thần, các thánh Tông Đồ, các thánh tử đạo hiển vinh và toàn thể các thánh. Đó chính là một khía cạnh của Bí Tích Thánh Thể phải được chú ý: khi cử hành hy tế của Con Chiên, chúng ta cùng hợp với phụng vụ thiên quốc, chúng ta liên kết với đoàn người đông đảo đang tung hô: “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” ( Kh 7, 10). Bí Tích Thánh Thể thực là một góc trời mở ra trên trần gian! Chính là một tia vinh quang của thành Giêrusalem thiên quốc, đang xuyên qua những lớp mây của lịch sử chúng ta và rọi sáng con đường chúng ta đi.

20. Một hệ luận khác rất có ý nghĩa của chiều hướng cánh chung trong Bí Tích Thánh Thể là sự thúc đẩy bước chân lữ hành của chúng ta trong lịch sử, làm nảy sinh một mầm hy vọng sống động cho mọi người hằng ngày tận tụy với nhiệm vụ của mình. Quả thật, nếu nhãn quan Kitô giáo mời gọi chúng ta nhìn về “trời mới”, “đất mới” (x. Kh 21, 1), điều đó không làm suy yếu, mà kích thích tâm thức của chúng ta về trách nhiệm đối với trái đất của chúng ta (33). Tôi muốn khẳng định lại điều này một cách mạnh mẽ vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, để các Kitô hữu hơn lúc nào hết, cảm thấy càng phải dấn thân chu toàn những bổn phận công dân trần thế của mình. Họ có nghĩa vụ phải đóng góp, dưới ánh sáng của Tin Mừng, vào việc xây dựng một thế giới xứng với con người và đáp ứng đầy đủ chương trình của Thiên Chúa.

Những vấn đề làm đen tối chân trời hiện tại của chúng ta rất nhiều. Chỉ cần nghĩ đến việc gấp rút phải hoạt động cho hòa bình, phải gấp rút đặt những cột móc vững chắc về phương diện công bằng và liên đới trong những mối liên hệ giữa các dân tộc, phải bênh vực sự sống của con người, từ lúc thụ thai, đến lúc chết một cách tự nhiên. Và phải nói gì đến hàng ngàn những mâu thuẫn trong một thế giới “toàn cầu hóa”, trong đó, những người yếu kém nhất, những người bé nhỏ nhất và những người nghèo nhất hình như không còn gì để hy vọng? Chính trong thế giới đó, phải làm sao cho niềm hy vọng Kitô giáo bừng sáng lên trở lại! Cũng chính vì thế mà Chúa đã muốn ở lại với chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể, ghi khắc vào sự hiện diện của hy tế và bữa ăn của Ngài, lời hứa cho nhân loại được đổi mới nhờ tình yêu của Ngài. Thật là ý nghĩa, nơi mà các sách Tin Mừng nhất lãm chỉ tường thuật việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Tin Mừng Gioan đưa ra trình thuật việc Chúa “rửa chân” để minh họa ý nghĩa thâm sâu của việc ấy, qua đó Chúa Giêsu làm thầy dạy hiệp thông và phục vụ ( x. Ga 13,1-20). Về phần mình, Thánh Tông Đồ Phaolô tuyên bố thật là “bất xứng” đối với một cộng đoàn Kitô hữu khi tham dự vào Bữa Tiệc Ly của Chúa, trong một bầu không khí chia rẽ và dửng dưng đối với người nghèo (x. 1Cr 11,17-22.27-34) (34).

Công bố cái chết của Chúa “cho tới khi Ngài lại đến” ( 1Cr 11, 26) đòi buộc những ai tham dự vào Tiệc Thánh Thể cương quyết dấn thân biến đổi cuộc sống, để một cách nào đó cuộc sống ấy hoàn toàn trở thành “Thánh Thể”. Chính hoa quả của sự biến hình cuộc sống và sự dấn thân biến đổi thế giới theo đường lối Tin Mừng, làm rạng sáng chiều kích cánh chung của việc Cử Hành Thánh Thể và của tất cả đời sống Kitô giáo: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!” ( Kh 22, 20).

(còn tiếp)

Ban hành tại Roma, cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô,
ngày 17 tháng 04 năm 2003, thứ Năm Tuần Thánh,
trong năm thứ 25 triều Giáo Hoàng của tôi và trong năm Mân Côi.

GIOAN-PHAOLÔ

_______________________________
Tham chiếu:

(22) Thông điệp Mysterium fidei (3/09/1965): AAS 75 (1965) trang 764, La Documentation catholique 62 (1965) cột 1643.

(23) Khóa XIII, sắc lệnh về Phép Thánh Thể rất thánh, chương 4: DS 1462; la foi catholique số739.

(24) Catéchèses mystagogiques, IV, 6: SCh 126, trang 138.

(25) Cđ. Vat. II, hiến chế Dei Verbum số 8.

(26) Tuyên xưng đức tin (30/06/1968), số 25: aas 60 (1968) trang 442-443; La Documentation catholique 65 (1968) cột 1256.

(27) Bài giảng lễ IV tuần thánh; CSCO 413/Syr. 182, 55.

(28) Kinh nguyện.

(29) Kinh nguyện Thánh Thể III.

(30) Lễ trọng Mình Máu Thánh Chúa Kitô- Kinh Chiều II, Thánh ca Magnificat.

(31) Sách Lễ Rôma, kinh nguyện phụ thêm sau Kinh Lạy Cha.

(32) Thư cho giáo đoàn Êphêsô, 20: PG 5, 661; SCh 10 bis trang 77.

(33) Cđ. Vat. II, Hiến chế Gaudium et Spes số 39.

(34) Bạn muốn tôn kính Thân Thể Đức Kitô? Đừng khinh dễ nó khi nó trần truồng. Đừng tôn kính nó ở đây, trong nhà thờ, bằng vải lụa đang khi bạn để nó ngoài trời đau đớn vì lạnh và vì thiếu quần áo. Vì Đấng đã nói: Nầy là Mình Thầy, và đã thực hiện điều đó khi nói như thế, chính Ngài đã nói: Bạn đã thất Ta đói và không cho Ta ăn, và cũng thế: Mỗi lần bạn không làm cho một trong những kẻ bé mọn nầy, là không làm cho chính Ta (…) Ích lợi gì khi bàn tiệc của Chúa Kitô đây những bình bằng vàng, trong khi chính Ngài lại chết đói. Hãy bắt đầu làm cho kẻ đói được no đã, và cái gì còn lại hãy đem trang hoàng bàn thờ của ngươi”. Thánh Gioan Kim Khẩu, Bài giảng lễ về Tin Mừng Thánh Matthêu 50, 3-4: PG 58, 508-509; xem Gioan-Phaolô II: Sollicitudo rei socialis (30/12/1987) số 31; AAS 80 (1988) trang 553-556; La Documentation catholique 85 (1988) trang 246.

------------------------------------

Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (1)

Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (2)