Tông huấn Chính lòng Tin cậy - Nhân dịp kỷ niệm 150 năm sinh nhật Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (2)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 46 | Cật nhập lần cuối: 5/16/2024 9:14:22 AM | RSS

(tiếp theo)

Tình yêu lớn nhất trong sự đơn giản nhất

Tong huan Chinh long Tin cay - Nhan dip ky niem 150 nam sinh nhat Thanh nu Teresa Hai Dong Giesu (2)35. Ở phần cuối Truyện một tâm hồn, Têrêsa trao cho chúng ta Lời nguyện Tận hiến như Của Lễ Toàn Thiêu cho Tình yêu Thương Xótcủa Thiên Chúa nhân lành. (58) Khi hoàn toàn phó mình cho tác động của Thánh Thần, chị nhận được một nguồn nước hằng sống dồi dào, không một tiếng động hay một dấu hiệu đặc biệt nào: “Những dòng sông, hay đúng hơn là những đại dương ân sủng đã tràn ngập tâm hồn con...”. (59) Đó là đời sống thần bí, dù không có những hiện tượng ngoại thường, nhưng được cống hiến cho mọi tín hữu như một kinh nghiệm yêu thương hằng ngày.

36. Têrêsa sống bác ái trong sự nhỏ bé, trong những điều đơn giản nhất của cuộc sống hằng ngày, và chị làm như vậy trong sự đồng hành của Đức Trinh Nữ Maria, học từ Mẹ “yêu là cho đi tất cả và trao ban chính mình”. (60) Thật vậy, trong khi các nhà giảng thuyết vào thời của chị thường nói về sự cao cả của Đức Maria một cách đắc thắng, xa vời với chúng ta, thì Têrêsa cho thấy, từ Tin Mừng, rằng Đức Maria là người vĩ đại nhất trong Nước Trời bởi vì Mẹ là người nhỏ nhất. (x. Mt 18, 4), người gần gũi nhất với Chúa Giêsu trong sự tủi nhục của Ngài. Chị thấy rằng, nếu những câu chuyện ngụy thư chứa đầy những đoạn ấn tượng và tuyệt vời, thì Tin Mừng cho chúng ta thấy một cuộc sống khiêm nhường và nghèo khó, sống trong sự đơn sơ của đức tin. Chính Chúa Giêsu muốn Đức Maria trở thành gương mẫu cho tâm hồn đang tìm kiếm Ngài với niềm tin bị tước đoạt. (61) Đức Maria là người đầu tiên sống “con đường nhỏ” trong đức tin thuần khiết và lòng khiêm nhường; đây là lý do tại sao Têrêsa không ngại viết:

“Xưa Nadaret, Mẹ đầy tràn ơn phúc (Lc 1, 28)

Sống nghèo hèn nhưng chẳng ước gì hơn

Không ngất ngây, không phép lạ, xuất thần

Điểm tô đời, ôi Nữ Vương son sắt!

Biết bao người sống đơn sơ chất phác

Trông lên Mẹ, không một chút sợ run

Ôi Mẹ lành, bởi lối hẹp đi chung

Dang vòng tay đưa họ về Thiên Quốc” (62)

37. Têrêsa cũng kể cho chúng ta những câu chuyện về những khoảnh khắc ân sủng được trải nghiệm trong sự đơn giản hàng ngày, chẳng hạn như nguồn cảm hứng bất ngờ của chị khi đồng hành cùng một nữ tu ốm đau khó tính. Nhưng đó luôn là những trải nghiệm bác ái mãnh liệt được sống trong đời thường: “Một buổi tối mùa đông, con đang hoàn thành việc nhỏ của mình như thường lệ, trời lạnh, đêm tối... Đột nhiên con nghe thấy từ xa một âm thanh du dương của một nhạc cụ, rồi con hình dung ra một phòng khách được chiếu sáng rực rỡ, tất cả đều lấp lánh ánh vàng, những cô gái trẻ ăn mặc sang trọng đang dành cho nhau những lời khen ngợi và những cử chỉ lịch sự ngoài đời; rồi con hướng nhìn về người bệnh tật tội nghiệp mà con đang giúp đỡ; thay vì một giai điệu, thì thỉnh thoảng con nghe thấy những tiếng rên rỉ ai oán, thay vì mạ vàng, con nhìn thấy những viên gạch của tu viện khắc khổ, hầu như không được chiếu sáng bởi một ánh sáng yếu ớt. Con không thể diễn tả được điều gì đã xảy ra trong tâm hồn con, con chỉ biết rằng chính Chúa chiếu sáng bằng những tia sáng sự thật vượt xa ánh sáng tăm tối của các lễ hội trên trần gian, đến nỗi con không thể tin vào hạnh phúc của mình… Ôi! để tận hưởng nghìn năm những lễ hội trần thế, con cũng sẽ không bỏ phí mười phút để hoàn thành nhiệm vụ bác ái khiêm tốn của mình...". (63)

Trong lòng Giáo hội

38. Têrêsa thừa hưởng từ Thánh Têrêsa Avila một tình yêu lớn lao dành cho Giáo hội và đã có thể chạm đến chiều sâu của mầu nhiệm này. Chúng ta thấy điều này khi ngài khám phá ra “Lòng Giáo hội”. Trong một lời cầu nguyện dài với Chúa Giêsu (64), được viết vào ngày 8 tháng 9 năm 1896, nhân kỷ niệm sáu năm khấn dòng, chị thánh đã tâm sự với Chúa rằng chị được xoay chuyển bởi một ước muốn vô biên, bởi niềm đam mê Tin Mừng mà không một ơn gọi nào có thể thỏa mãn cho chị. Vì vậy, để tìm kiếm “vị trí” của mình trong lòng Giáo hội, chị đọc lại chương 12 và 13 trong Thư thứ nhất Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô.

39. Trong chương 12, Thánh Tông đồ sử dụng ẩn dụ về thân thể với các chi thể để giải thích rằng Giáo hội bao gồm nhiều đặc sủng khác nhau được sắp xếp theo một thứ tự phẩm trật. Nhưng sự mô tả này không đủ đối với Têrêsa. Chị tiếp tục nghiên cứu, đọc “bài ca đức ái” ở chương 13, tìm ra câu trả lời tuyệt vời ở đó và viết ra trang đáng nhớ này: “Nhìn vào thân thể huyền nhiệm của Giáo hội, con không nhận ra mình trong bất kỳ chi thể nào được Thánh Phaolô mô tả, hay đúng hơn là con muốn nhận ra mình trong tất cả... Đức bác ái đã cho con chìa khóa ơn gọi của mình. Con hiểu rằng nếu Giáo hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì điều cần thiết nhất, cao quý nhất, con hiểu rằng Giáo hội có một Trái tim, và Trái tim này cháy bỏng tình yêu. Con hiểu rằng chỉ có Tình yêu mới làm cho các thành viên của Giáo hội sống động, rằng nếu Tình yêu chết đi thì các Tông đồ sẽ không còn loan báo Tin Mừng nữa, các Thánh Tử đạo sẽ không chịu đổ máu mình ra nữa... Con hiểu rằng Tình yêu chứa đựng tất cả mọi Ơn gọi, rằng Tình yêu là tất cả, bao trùm mọi lúc và mọi nơi... tóm lại, Tình yêu là vĩnh cửu!... Vì vậy, trong lúc tình yêu xúc động ngây ngất, con đã kêu lên: Ôi Chúa Giêsu, Tình yêu của con... ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy, ơn gọi của con chính là Tình yêu... Vâng, con đã tìm thấy vị trí của mình trong lòng Giáo hội và nơi này, ôi lạy Chúa, chính Ngài đã ban cho con... trong lòng Giáo hội, Mẹ của con, con sẽ là Tình yêu... như vậy con sẽ là tất cả... như vậy ước mơ của con sẽ thành hiện thực !!!...". (65)

40. Đây không phải là trái tim của một Giáo hội đắc thắng, mà là tấm lòng của một Giáo hội yêu thương, khiêm nhường và đầy lòng thương xót. Têrêsa không bao giờ đặt mình lên trên người khác, nhưng ở vị trí cuối cùng với Con Thiên Chúa, Đấng đã mặc lấy thân phận tôi tớ và hạ mình, vâng phục cho đến chết trên thập giá vì chúng ta (x. Phil 2,7-8).

41. Việc khám phá ra lòng Giáo hội như vậy cũng là một ánh sáng lớn lao cho chúng ta ngày nay, để chúng ta không bị tổn thương bởi những giới hạn và yếu đuối của cơ cấu Giáo hội, nhơ uế bởi những điều tối tăm hoặc tội lỗi, đồng thời giúp chúng ta bước vào “trái tim cháy bỏng tình yêu” được thắp sáng vào ngày Lễ Hiện Xuống nhờ ân sủng của Thánh Thần. Đó là trái tim mà ngọn lửa vẫn được nhen nhóm bởi mỗi hành động bác ái của chúng ta. “Con sẽ là tình yêu”: đây là sự lựa chọn triệt để của Têrêsa, là sự tổng hợp dứt khoát, căn tính thiêng liêng cá nhân nhất của Têrêsa.

Mưa hoa hồng

42. Sau nhiều thế kỷ, trong đó nhiều vị thánh đã thể hiện một cách hết sức nhiệt thành và đẹp đẽ ước muốn “lên thiên đàng”, Thánh Têrêsa thừa nhận một cách hết sức chân thành: “Khi đó con đã phải chịu đựng đủ loại thử thách nội tâm lớn lao (đến mức đôi khi tự hỏi liệu có Thiên Đàng không).” (66) Ở một điểm khác, chị nói: “Khi con hát về hạnh phúc Thiên Đàng, về sự chiếm hữu Thiên Chúa cách vĩnh cửu, con không cảm thấy vui chút nào, vì con chỉ hát những gì con muốn tin.” (67) Chuyện gì đang xảy ra vậy? Chị đã nghe thấy tiếng Chúa mời gọi đốt cháy lòng Giáo hội hơn là mơ về hạnh phúc của chính mình.

43. Sự biến đổi xảy ra bên trong chị đã cho phép chị chuyển từ lòng khao khát Thiên đàng nhiệt thành sang lòng khao khát mãnh liệt và liên tục vì lợi ích của mọi người, lên đến đỉnh điểm là giấc mơ tiếp tục sứ mạng của chị trên Thiên đàng: yêu mến Chúa Giêsu và làm cho Ngài được yêu mến. Theo nghĩa này, chị đã viết trong một trong những bức thư cuối cùng của mình: “Em không có ý định ở thụ động trên Thiên đàng, mong muốn của em là tiếp tục làm việc cho Giáo hội và các linh hồn”. (68) Và cùng lúc đó, chị nói thẳng thắn hơn: “Thiên Đàng của con sẽ diễn ra trên trái đất cho đến ngày tận thế. Vâng, con muốn dành Thiên Đàng của mình để làm những điều tốt đẹp trên trần gian.” (69)

44. Têrêsa đã bày tỏ lời đáp trả xác tín nhất của mình như thế đối với hồng ân độc đáo mà Chúa đã ban cho chị, trước ánh sáng đáng kinh ngạc mà Thiên Chúa tuôn đổ vào chị. Bằng cách này, chị đã đi đến bản tổng hợp Tin Mừng cuối cùng của mình, bắt đầu từ lòng tin cậy trọn vẹn và đạt đến đỉnh cao trong việc hiến dâng trọn vẹn cho người khác. Chị không nghi ngờ gì về hiệu quả của hồng ân này: “Con nghĩ đến tất cả những điều tốt đẹp con muốn làm sau khi qua đời”. (70) “Chúa nhân lành sẽ không ban cho con ước muốn làm điều tốt trên trần gian sau khi con qua đời, nếu Ngài không muốn thực hiện điều đó.” (71) “Điều đó giống như một cơn mưa hoa hồng.” (72)

45. Vòng tròn khép lại. “Đó là lòng tin cậy.” Chính lòng tin cậy dẫn chúng ta đến Tình yêu và do đó giải thoát chúng ta khỏi sợ hãi, chính lòng tin cậy giúp chúng ta xoay chuyển khỏi cái nhìn quy về chính mình, chính lòng tin cậy cho phép chúng ta phó mình trong tay Thiên Chúa những gì mà chỉ có Ngài mới có thể làm được. Điều này để lại cho chúng ta một dòng chảy bao la của tình yêu và nghị lực sẵn sàng tìm kiếm lợi ích cho anh em mình. Và vì vậy, giữa nỗi đau khổ của những ngày cuối đời, chị có thể nói: “Con chỉ trông cậy vào tình yêu”. (73) Cuối cùng, chỉ trông cậy vào tình yêu. Lòng tin cậy làm cho những bông hoa hồng bung nở và lan tỏa như một dòng chảy tràn ngập tình yêu thần thiêng. Chúng ta hãy cầu xin lòng tin cậy như một hồng ân nhưng không, một món quà ân sủng vô giá, để những con đường Tin Mừng có thể mở ra trong cuộc đời chúng ta.

4. TRỌNG TÂM CỦA TIN MỪNG

46. Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, tôi đã nhấn mạnh đến lời mời gọi quay trở lại với suối nguồn tươi mát để nhấn mạnh những gì là thiết yếu và không thể thiếu. Tôi tin rằng việc tiếp tục và đề nghị lại lời mời này là phù hợp.

Tiến sĩ của sự tổng hòa

47. Tông huấn về Thánh Têrêsa này cho phép tôi nhớ lại rằng, trong một Giáo hội truyền giáo, “việc loan báo tập trung vào điều thiết yếu, vào điều đẹp hơn, vĩ đại hơn, hấp dẫn hơn và đồng thời cần thiết hơn. Mệnh đề trở nên đơn giản hơn, không mất đi chiều sâu và chân lý, do đó trở nên thuyết phục và sáng sủa hơn.” (74) Trái tim sáng ngời là “vẻ đẹp của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại”. (75)

48. Không phải tất cả đều là trung tâm, bởi vì có một trật tự hoặc một phẩm trật giữa các chân lý của Giáo hội, và “điều này có giá trị nhiều cho các tín điều đức tin cũng như cho tất cả các giáo huấn của Giáo hội, kể cả giáo huấn về luân lý. (76) Trung tâm của luân lý Kitô giáo là đức ái, là sự đáp trả tình yêu vô điều kiện của Chúa Ba Ngôi. Đó là lý do tại sao “những việc yêu thương đối với người lân cận là biểu hiện hoàn hảo nhất từ ân sủng bên trong của Thánh Thần”. (77) Cuối cùng, chỉ có tình yêu là quan trọng.

49. Một cách cụ thể, sự đóng góp độc đáo mà Têrêsa cống hiến cho chúng ta với tư cách là Thánh nữ và Tiến sĩ Giáo hội không mang tính phân tích, chẳng hạn như đóng góp của Thánh Tôma Aquinas. Sự đóng góp của thánh nữ khá tổng hợp, bởi vì thiên tài của chị là dẫn chúng ta đến trung tâm, đến điều cốt yếu, đến điều cốt yếu nhất. Chị cho thấy qua lời nói và hành trình cá nhân của mình rằng, ngay cả khi tất cả những giáo huấn và quy tắc của Giáo hội đều có tầm quan trọng, có giá trị, có ánh sáng riêng, thì một số giáo huấn và quy tắc của Giáo hội vẫn cấp bách hơn và có tính cấu trúc hơn trong đời sống Kitô hữu. Đó là nơi Têrêsa đặt ánh mắt và trái tim của mình.

50. Các nhà thần học, các nhà luân lý, các nhà tư tưởng về linh đạo, cũng như các mục tử và mỗi tín hữu trong môi trường của mình, chúng ta cần phải thu nhận trực giác tuyệt vời này của Têrêsa và từ đó rút ra những hệ quả cả về lý thuyết lẫn thực hành, cả về giáo lý lẫn mục vụ, cả cá nhân và cộng đồng. Cần có sự táo bạo và tự do nội tâm để đạt được điều này.

51. Đôi khi người ta chỉ trích dẫn những cách diễn đạt bên ngoài của vị thánh này, hoặc đề cập đến những câu hỏi chung chung mà chị thánh giống với tất cả các vị thánh khác: cầu nguyện, hy sinh, lòng sùng kính Thánh Thể, và rất nhiều chứng từ đẹp đẽ khác. Nhưng khi làm như vậy, chúng ta tự tước đi những gì đặc thù của chị, những gì chị mang lại cho Giáo hội, bởi vì chúng ta quên rằng “mỗi vị thánh là một sứ mạng; đó là dự án của Chúa Cha nhằm phản ánh và nhập thể một khía cạnh của Tin Mừng vào một thời điểm cụ thể trong lịch sử.” (78) Đó là lý do tại sao, “để nhận ra lời Chúa muốn nói qua một vị thánh là gì, chúng ta không được dừng lại ở các chi tiết […]. Điều phải được xem xét là toàn bộ cuộc đời của ngài, toàn bộ hành trình nên thánh của ngài, gương mặt này phản ánh một điều gì đó về Chúa Giêsu Kitô và được mặc khải khi chúng ta có thể nhận thức được ý nghĩa về toàn bộ con người của vị thánh”. (79) Điều này càng đúng hơn đối với Thánh Têrêsa, “Tiến sĩ tổng hòa”.

52. Từ trời xuống đất, tính thời sự của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan vẫn còn nguyên trong tất cả “sự vĩ đại nhỏ bé” của chị. Trong một thời đại đang lôi kéo chúng ta đóng khung trong những mối bận tâm của riêng mình, Têrêsa cho chúng ta thấy rằng thật tuyệt vời khi biến cuộc đời thành một món quà trao ban.

Vào thời điểm mà những nhu cầu hời hợt nhất lên ngôi, thì chị thánh là chứng nhân của tinh thần cấp tiến Tin Mừng.

Trong thời đại của chủ nghĩa cá nhân, chị giúp chúng ta khám phá ra giá trị của tình yêu trở thành lời chuyển cầu cho người khác.

Vào thời điểm con người bị ám ảnh bởi sự vĩ đại và những hình thức quyền lực mới, chị thánh chỉ ra con đường dẫn đến sự nhỏ bé đơn sơ.

Vào thời điểm mà nhiều sinh linh bị vứt bỏ, chị thánh dạy chúng ta vẻ đẹp của sự quan tâm, chăm sóc người khác.

Vào thời điểm phức tạp, chị thánh có thể giúp chúng ta khám phá lại sự đơn sơ, tính ưu việt tuyệt đối của tình yêu, lòng tin cậy và sự tín thác, vượt xa thứ luận lý mang tính pháp lý và luân lý, vốn làm ngộp đời sống Kitô hữu bằng những việc phải tuân giữ và những giới luật, đồng thời khiến cho niềm vui Tin Mừng bị đóng băng.

Trong một thời đại thờ ơ và khép kín, Têrêsa mời gọi chúng ta lên đường loan báo Tin Mừng, bị chinh phục bởi sức hấp dẫn của Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng.

53. Một thế kỷ rưỡi sau khi sinh ra, Têrêsa vẫn sống động hơn bao giờ hết trong lòng Giáo hội lữ hành, trong lòng Dân Chúa. Chị đang hành hương với chúng ta, làm điều thiện trên trái đất như chị mong muốn. Vô số “bông hồng” mà Têrêsa đem rải khắp nơi là dấu chỉ đẹp nhất về sức sống thiêng liêng của chị, nghĩa là những ân sủng mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua lời chuyển cầu đầy tình yêu của chị, để nâng đỡ chúng ta trên đường đời.

Lạy thánh Têrêsa rất mến yêu,

Giáo hội đang cần tỏa sáng Tin Mừng đầy màu sắc, hương thơm và niềm vui.

Xin gửi cho chúng con những bông hồng của ngài.

Xin giúp chúngcon luôn tin cậy,

như xưa ngài đã sống,

trong tình yêu vĩ đại mà Thiên Chúa dành cho chúng con,

để chúng con có thể bắt chước mỗi ngày

con đường thánh thiện nhỏ bé của ngài.

Amen.

Ban hành tại Rôma, Vương cung Thánh đường Gioan Lateranô, ngày 15 tháng 10,
kính nhớ Thánh Têrêsa Avila, năm 2023,
năm thứ 11 trong Triều đại Giáo hoàng của tôi.
Phanxicô

Chuyển ngữ: Đình Chẩn
Chuyển ngữ từ: vatican.va
Nguồn: giaophanphatdiem.org

_________________________________

Chú thích:

(58) X. Lời cầu nguyện 6, tr. 962-964.

(59) Thủ bản tự thuật A, 84r°, tr. 212.

(60) Thơ 54, 22, tr. 755.

(61)X. ibid., 15, p. 753

(62) Nt, 17, tr. 754.

(63) Thủ bản tự thuật C, 29v°-30rº, tr. 274-275.

(64) X. Thủ bản tự thuật B, 2r°-5v°: p. 222-232.

(65) Cùng nguồn, 3v°, tr. 226.

(66) Thủ bản tự thuật A, 80v°, tr. 205. Đó không phải là thiếu đức tin. Thánh Tôma Aquinas dạy rằng trong đức tin ý chí và trí thông minh hoạt động. Sự kết dính của ý chí có thể rất vững chắc và bén rễ, trong khi trí thông minh có thể bị lu mờ: x. De Veritate 14, 1.

(67) Thủ bản tự thuật C, 7v°, tr. 244.

(68) Thư 254, gửi cha Roulland (14/7/1897), tr. 609.

(69) CJ, 17-7-1897, tr. 1050.

(70) Nt, ngày 13 tháng 7 năm 1897, 17, tr. 1042.

(71) Nt, ngày 18 tháng 7 năm 1897, 1, tr. 1051.

(72) CJ, ngày 9 tháng 6 năm 1897, 3, tr. 1013.

(73) Thư 242, gửi Chị Marie Chúa Ba Ngôi (6/6/1897), tr. 599.

(74) Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng (24/11/2013), n. 35: AAS 105 (2013), tr. 1034.

(75) Đã dẫn., n. 36: AAS 105 (2013), tr. 1035.

(76) Đã dẫn.

(77) Đã dẫn., n. 37: AAS 105 (2013), tr. 1035.

(78) Tông huấn Hãy Vui Mừng Hoan Hỷ (19/03/2018), n. 19: AAS 110 (2018), tr. 1117.

(79) Đã dẫn., n. 22: AAS 110 (2018), tr. 1117.