Tông huấn Chính lòng Tin cậy - Nhân dịp kỷ niệm 150 năm sinh nhật Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 49 | Cật nhập lần cuối: 5/16/2024 9:02:32 AM | RSS

Tong huan Chinh long Tin cay - Nhan dip ky niem 150 nam sinh nhat Thanh nu Teresa Hai Dong Giesu (1)Từ trời xuống đất, tính thời sự của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan vẫn còn nguyên trong tất cả “sự vĩ đại nhỏ bé” của chị. Trong một thời đại đang lôi kéo chúng ta đóng khung trong những mối bận tâm của riêng mình, Têrêsa cho chúng ta thấy rằng thật tuyệt vời khi biến cuộc đời thành một món quà trao ban.

TÔNG HUẤN CHÍNH LÒNG TIN CẬY CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ
VỀ LÒNG TIN CẬY VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
NHÂN DỊP KỶ NIỆM 150 NĂM SINH NHẬT THÁNH NỮ TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU VÀ THÁNH NHÂN

1. “Chính lòng tin cậy và không gì khác ngoài lòng tin cậy sẽ dẫn chúng ta đến Tình Yêu.” (1)

2. Những lời rất mạnh mẽ này của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan đã nói lên tất cả, tóm lược thiên tài về linh đạo của ngài và đủ để minh chứng cho việc ngài được tuyên bố là Tiến sĩ Giáo hội. Chỉ có lòng tin cậy, và “không có gì khác”, không có con đường nào khác dẫn chúng ta đến Tình Yêu trao ban tất cả. Nhờ lòng tin cậy, nguồn ân sủng đổ tràn ngập trong cuộc sống của chúng ta, Tin Mừng trở nên máu thịt trong chúng ta và biến đổi chúng ta thành kênh dẫn lòng thương xót cho anh em mình.

3. Chính lòng tin cậy nâng đỡ chúng ta mỗi ngày và sẽ khiến chúng ta đứng vững trước ánh mắt của Chúa khi Ngài gọi chúng ta đến với Ngài: “Vào lúc xế chiều cuộc đời này, con sẽ xuất hiện trước nhan Ngài với đôi bàn tay không, vì Lạy Chúa, con không xin Ngài đếm các công trạng của con. Tất cả sự công chính của chúng con đều có vết nhơ trước mắt Ngài. Vì thế, con muốn mặc lấy sự Công chính của Ngài và nhờ Tình Yêu của Ngài, con chiếm hữu được chính Ngài vĩnh viễn.” (2)

4. Têrêsa là một trong những vị thánh được biết đến nhiều nhất và được yêu mến nhất trên khắp thế giới. Giống như Thánh Phanxicô Assisi, ngài được yêu mến thậm chí nơi những người không phải là Kitô hữu và cả những người không tin. Thánh nữ cũng được UNESCO công nhận là một trong những gương mặt ý nghĩa nhất của nhân loại đương đại. (3)

Thật là tốt cho chúng ta khi đào sâu sứ điệp của ngài nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của ngài, tại Alençon vào ngày 2 tháng 1 năm 1873, và kỷ niệm 100 năm phong chân phước cho ngài. (4) Nhưng tôi không muốn công bố Tông huấn này vào một trong những ngày đó, cũng như vào ngày kính nhớ ngài, để sứ điệp này vượt xa lễ kỷ niệm và được hiểu như một phần kho tàng thiêng liêng của Giáo hội. Ngày công bố Tông huấn này, kính nhớ Thánh Têrêsa Avila, nhằm mục đích giới thiệu Thánh Têrêsa của Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan như hoa trái chín muồi của cuộc cải cách Dòng Cát Minh và linh đạo của vị Thánh vĩ đại người Tây Ban Nha.

5. Cuộc đời dương thế của Têrêsa thật ngắn ngủi, hai mươi bốn năm,và giản dị như bao cuộc đời khác, bắt đầu từ trong gia đình, rồi đến Dòng Cát Minh ở Lisieux. Ánh sáng và tình yêu phi thường tỏa ra từ con người thánh nữ, được phát lộ ngay sau khi ngài qua đời, với việc xuất bản các tác phẩm của ngài và vô số ân sủng mà các tín hữu đã nhận được nhờ lời ngài chuyển cầu.

6. Giáo hội nhanh chóng nhận ra giá trị phi thường trong chứng từ của chị và tính độc đáo trong linh đạo đầy tinh thần Tin Mừng này. Têrêsa được gặp Đức Giáo hoàng Lêo XIII trong một chuyến hành hương đến Roma vào năm 1887 và chị xin ngài chuẩn phép cho vào Dòng Cát Minh khi mới mười lăm tuổi. Không lâu sau khi chị qua đời, Thánh Piô X đã nhận ra tầm vóc thiêng liêng to lớn của chị, đến mức khẳng định rằng chị sẽ trở thành vị thánh vĩ đại nhất của thời hiện đại. Têrêsa được Đức Bênêđíctô XV tuyên bố là Bậc Đáng kính vào năm 1921, được ca ngợi các nhân đức thể hiện trong “con đường nhỏ” của thời thơ thiêng liêng (5); được phong chân phước cách đây một thế kỷ và sau đó được Đức Piô XI tuyên phong hiển thánh vào ngày 17 tháng 05 năm 1925. Vị Giáo hoàng này đã dâng lời tạ ơn Chúa vì đã làm cho Têrêsa của Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan là Chân phước đầu tiên được tôn vinh trên bàn thờ và là vị thánh đầu tiên được ngài tuyên thánh. (6) Cũng chính Đức Giáo hoàng này đã công bố thánh nữ là Bổn mạng của các xứ Truyền giáo vào năm 1927. (7) Thánh nữ được tôn vinh là một trong những vị thánh bảo trợ của nước Pháp vào năm 1944 bởi Đức Piô XII đáng kính (8), người đã nhiều lần khám phá chủ đề thơ ấu thiêng liêng. (9) Thánh Phaolô VI thì thích nhớ lại lễ rửa tội ngài được lãnh nhận vào ngày 30 tháng 9 năm 1897, ngày thánh Têrêsa qua đời, và nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thánh nữ, ngài đã viết thư cho Đức Giám mục Giáo phận Bayeux và Lisieux về học thuyết của thánh nữ. (10) Trong chuyến tông du đầu tiên đến Pháp, Thánh Gioan Phaolô II đã đến vương cung thánh đường kính thánh nữ vào ngày 2 tháng 6 năm 1980 và, vào năm 1997, ngài đã tuyên bố thánh nữ là Tiến sĩ Giáo hội (11) với tư cách là một “chuyên gia về khoa học tình yêu”. (12) Đức Bênêđíctô XVI đã lấy lại chủ đề “khoa học về tình yêu” bằng cách đề xuất thánh nữ như “một bậc thầy hướng dẫn cho tất cả mọi người, đặc biệt cho những người thực thi thừa tác vụ thần học trong dân Chúa”. (13)

Cuối cùng, tôi cũng vui mừng được tuyên thánh cho cha mẹ của thánh nữ, ông bà cố Louis và Zélie, vào năm 2015 nhân dịp Thượng Hội đồng về Gia đình và gần đây tôi đã dâng cho thánh nữ một bài giáo lý về chủ đề lòng nhiệt thành tông đồ. (14)

1. CHÚA GIÊSU VÌ NGƯỜI KHÁC

7. Trong tên gọi mà chị thánh chọn như là nữ tu, danh Giêsu nổi bật lên là: “Hài Nhi”, vốn biểu lộ mầu nhiệm Nhập Thể, và “Thánh Nhan”, nghĩa là khuôn mặt của Chúa Kitô, Đấng hiến mình cho đến cùng trên Thập Giá. Chị là “Thánh Têrêsa của Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan”.

8. Thánh danh Giêsu luôn được Têrêsa “hít thở” như một hành động yêu thương, cho đến hơi thở cuối cùng. Chị cũng đã khắc những dòng chữ này vào phòng tu của mình: “Chúa Giêsu là tình yêu duy nhất của con”. Đây là cách ngài giải thích về lời khẳng định trọng tâm của Tân Ước: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8.16).

Một tâm hồn truyền giáo

9. Như xảy ra trong bất kỳ cuộc gặp gỡ đích thực nào với Chúa Kitô, kinh nghiệm đức tin đã mời gọi chị đến với sứ mạng. Têrêsa đã xác định sứ mạng của mình bằng những lời này: “Con mong muốn cùng một điều ở trên Trời cũng như dưới đất: Yêu mến Chúa Giêsu và làm cho Ngài được yêu mến”. (15) Chị viết rằng chị vào Cát Minh “để cứu các linh hồn.” (16) Nói cách khác, chị thánh không quan tâm đến việc hiến mình cho Thiên Chúa mà không tìm kiếm lợi ích cho anh em mình. Chị đã chia sẻ tình yêu thương xót của Chúa Cha dành cho đứa con tội lỗi, và của vị Mục Tử Nhân Lành dành cho những con chiên lạc lối, xa cách, bị thương tích. Đó là lý do tại sao chị là Bổn mạng của các xứ truyền giáo, bậc thầy về loan báo Tin Mừng.

10. Những trang cuối cùng của Truyện Một Tâm Hồn (17) là một tin mừng truyền giáo, bày tỏ cách chị quan niệm việc loan báo Tin Mừng bằng sự hấp dẫn (18) chứ không phải bằng sự áp đặt hay chiêu dụ. Thật thú vị khi đọc cách chị tóm tắt: “Kéo em đi, chúng em sẽ chạy theo mùi hương của chàng”. Ôi Chúa Giêsu, vì thế không cần thiết phải nói: Trong khi hấp dẫn con, hãy thu hút những linh hồn mà con yêu mến. Chỉ một từ đơn giản: “Xin hãy thu hút con” là đủ. Lạy Chúa, con hiểu, khi một linh hồn để mình bị quyến rũ bởi mùi hương say đắm của Chúa, nó sẽ không thể chạy một mình, tất cả những linh hồn mà nó yêu mến đều bị lôi kéo theo sau: điều này xảy ra mà không bị ràng buộc, không cần nỗ lực, đó là hệ quả tự nhiên bởi sự thu hút hướng về Ngài. Giống như một dòng nước mạnh đổ vào đại dương, cuốn theo mọi thứ trong dòng chảy, cũng vậy, Ôi Chúa Giêsu của con, linh hồn này lao vào đại dương tình yêu không bến bờ của Chúa, cũng mang theo tất cả những kho tàng mà nó sở hữu. Lạy Chúa, Chúa biết đấy, con không có kho báu nào khác ngoài những linh hồn mà Chúa vui lòng kết hợp với con.” (19)

11. Chị trích dẫn trên đây những lời tình nương nói với chàng rể trong sách Diễm ca (1, 3-4), theo cách giải thích sâu sắc của hai vị tiến sĩ dòng Cát Minh, Thánh Têrêsa của Chúa Giêsu và Thánh Gioan Thánh Giá. Chàng Rể là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng đã kết hợp với nhân loại chúng ta trong cuộc nhập thể và cứu chuộc nhân loại trên Thập Giá. Từ cạnh sườn mở ra, Ngài đã sinh ra Giáo hội, Hiền thê yêu dấu mà Ngài đã hiến mạng sống mình (x. Eph 5:25). Điều đáng chú ý là Têrêsa, ý thức mình đang cận kề cái chết, không sống mầu nhiệm này khép kín riêng mình, trong một cảm giác chỉ được an ủi, nhưng với một tinh thần tông đồ nhiệt thành.

Ân sủng giải thoát chúng ta khỏi thói tự quy chiếu về mình

12. Điều này cũng đúng khi chị thánh nói về hoạt động của Chúa Thánh Thần, một hành động ngay lập tức mang ý nghĩa truyền giáo: “Đây là lời cầu nguyện của con: con xin Chúa Giêsu kéo con vào trong ngọn lửa tình yêu của Ngài, để con được hiệp nhất với Ngài mật thiết đến nỗi Ngài sống và hành động trong con. Càng cảm thấy ngọn lửa tình yêu đốt cháy trái tim con, con sẽ càng thưa lên: Hãy thu hút con, cả những linh hồn đến gần con (con chỉ là mảnh sắt vô dụng tội nghiệp, nếu con rời xa ngọn lửa thần thiêng), chớ gì họ chạy nhanh theo hương thơm của Người Yêu Dấu, bởi vì một tâm hồn cháy bỏng tình yêu không thể nào ngồi yên thụ động được.” (20)

13. Trong trái tim Têrêsa, ân sủng của phép rửa trở thành dòng thác mạnh mẽ chảy vào đại dương tình yêu của Chúa Kitô, mang theo vô số anh chị em mình. Đây là điều đã xảy ra đặc biệt sau khi chị qua đời: lời hứa của chị về “cơn mưa hoa hồng”. (21)

2. CON ĐƯỜNG NHỎ CỦA LÒNG TIN CẬY VÀ TÌNH YÊU

14. Một trong những khám phá quan trọng nhất của Têrêsa, vì lợi ích của toàn thể dân Chúa, là “con đường nhỏ” của chị, con đường tin cậy và yêu thương, còn được gọi là Con đường thơ ấu thiêng liêng. Mọi người đều có thể đi theo chị, trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời, vào mọi thời điểm tồn tại. Đây là con đường mà Cha trên trời mạc khải cho những kẻ bé mọn (x. Mt 11,25).

15. Têrêsa kể lại việc khám phá ra con đường nhỏ trong Truyện Một Tâm Hồn: (22) “Do đó, con có thể, dù nhỏ bé, vẫn khao khát nên thánh; tự lớn lên là điều không thể, con phải bao dung với chính mình với mọi khuyết điểm của mình; nhưng con muốn tìm cách lên Thiên Đàng bằng một con đường rất thẳng, rất ngắn, một con đường nhỏ, hoàn toàn mới mẻ.” (23)

16. Để mô tả, chị dùng hình ảnh thang máy: “Thang máy nâng con lên Thiên đàng chính là cánh tay Ngài, Ôi Chúa Giêsu! Để làm được điều đó, con không cần phải lớn lên, trái lại con cần phải nhỏ bé, ngày càng trở nên nhỏ bé hơn”. (24) Nhỏ bé, không có khả năng tin cậy vào chính mình, nhưng tín thác vào vòng tay đầy sức mạnh yêu thương của Chúa.

17. Đó là “con đường yêu thương ngọt ngào”, (25) được Chúa Giêsu mở ra cho những kẻ bé nhỏ và người nghèo, cho tất cả mọi người. Đây là con đường dẫn đến niềm vui đích thực. Đối lập với quan niệm của phái Pelagio về sự thánh thiện, (26) mang tính cá nhân và thuộc giới tinh hoa, khổ hạnh hơn là thần bí, vốn nhấn mạnh trên hết vào nỗ lực của con người, Têrêsa thì luôn nhấn mạnh đến tính ưu việt bởi hành động của Thiên Chúa, của ân sủng Ngài ban. Chị còn đi xa hơn khi nói: “Con luôn cảm thấy tin tưởng táo bạo rằng mình sẽ trở thành một vị Thánh lớn, bởi vì con không cậy dựa vào công trạng riêng mình, nhưng con đặt hi vọng vào Đấng là Nhân đức, là chính sự Thánh thiện: chỉ có Ngài là Đấng hài lòng với những nỗ lực yếu đuối của con, sẽ nâng con lên với chính Ngài và bao phủ con bằng công nghiệp vô hạn của Ngài, sẽ làm cho con nên thánh.” (27)

Vượt trên mọi công đức

18. Lối suy nghĩ này không mâu thuẫn với giáo huấn truyền thống của Công giáo về sự phát triển của ân sủng. Được công chính hóa một cách tự do nhờ ân sủng thánh hóa, chúng ta được biến đổi và có thể cộng tác qua những việc lành của mình trên con đường thăng tiến trong sự thánh thiện. Bằng cách này, chúng ta được lớn lên tới mức chúng ta có được những công trạng thực sự theo sự tiến triển của ân sủng đã lãnh nhận.

19. Nhưng Têrêsa thích nhấn mạnh đến tính ưu việt của hành động thần linh và mời gọi hoàn toàn tín thác khi chiêm ngắm tình yêu của Chúa Kitô được ban cho chúng ta đến cùng. Về cơ bản, chị cho thấy, vì chúng ta không thể có bất kỳ sự chắc chắn nào khi chỉ nhìn vào chính mình, (28) nên chúng ta cũng không thể chắc chắn sở hữu được công đức nào. Do đó, không thể dựa vào nỗ lực của chúng ta hoặc vào những gì chúng ta làm. Sách Giáo lý trích dẫn lời của Thánh Têrêsa khi ngài thưa với Chúa “Con sẽ ra trước mặt Chúa với đôi bàn tay không”, (29) để diễn tả rằng “các thánh luôn có một ý thức sống động rằng công đức của các ngài là ân sủng thuần khiết”. (30) Niềm xác tín này khơi dậy lòng biết ơn vui tươi và dịu dàng.

20. Do đó, thái độ thích hợp nhất là đặt lòng tin cậy ra bên ngoài bản thân: là đặt vào lòng thương xót vô hạn của một vị Thiên Chúa yêu thương vô hạn và đã trao ban mọi sự trên Thập giá là Chúa Giêsu Kitô. (31) Đây là lý do tại sao chị không bao giờ sử dụng cách diễn đạt thông thường vào thời của chị: “Tôi sẽ làm cho mình nên thánh”.

21. Mặt khác, lòng tin cậy vô hạn của chị khuyến khích những ai cảm thấy mong manh yếu đuối, giới hạn, tội lỗi, hãy để mình được dẫn dắt và biến đổi để đạt đến đỉnh cao: “Ôi! Nếu tất cả những tâm hồn yếu đuối và bất toàn đều cảm nhận được điều mà tâm hồn nhỏ bé nhất trong tất cả mọi tâm hồn đang cảm nhận, linh hồn của Têrêsa bé nhỏ của Mẹ đây, thì không một ai sẽ tuyệt vọng khi lên đến đỉnh núi tình yêu, vì Chúa Giêsu không đòi hỏi những việc làm vĩ đại mà chỉ yêu cầu lòng tín thác và biết ơn.” (32)

22. Chính sự nhấn mạnh này của Têrêsa về sáng kiến thần linh cho thấy, khi chị nói về Bí tích Thánh Thể, chị không đặt ước muốn được rước Chúa Giêsu lên hàng đầu, nhưng là ước muốn của Chúa Giêsu được hiệp nhất với chúng ta và ở lại trong tâm hồn chúng ta. (33) Trong hành vi Dâng hiến cho Tình Yêu Thương Xót, đau khổ vì không thể rước lễ mỗi ngày, chị đã thưa với Chúa Giêsu: “Hãy ở lại trong con như ở trong Nhà tạm”. (34) Trung tâm và đối tượng chiêm ngắm của chị không phải là chính mình với những nhu cầu của mình, mà là Chúa Kitô, Đấng yêu thương, Đấng tìm kiếm, Đấng khao khát, Đấng ngự trong tâm hồn.

Lòng tín thác hàng ngày

23. Lòng tin cậy mà Têrêsa đề cao không nên chỉ được hiểu trong mối liên hệ với việc thánh hóa và cứu rỗi mang tính cá nhân. Nó có một ý nghĩa toàn diện, bao trùm toàn bộ cuộc sống cụ thể và áp dụng cho tất cả cuộc đời chúng ta, nơi chúng ta thường bị xâm chiếm bởi những nỗi sợ hãi, bởi ước muốn an toàn mang tính phàm trần, bởi nhu cầu kiểm soát mọi thứ. Đây là nơi xuất hiện lời mời gọi “tín thác” thánh thiện.

24. Lòng tin cậy trọn vẹn, trở thành sự tín thác trong Tình Yêu, giải thoát chúng ta khỏi những toan tính ám ảnh, khỏi sự lo lắng thường trực về tương lai, khỏi những nỗi sợ hãi lấy đi sự bình an. Trong những ngày cuối đời, Têrêsa đã nhấn mạnh điểm này: “Chúng ta, những người đang chạy trên con đường Tình Yêu, con thấy rằng chúng ta không được nghĩ đến những điều có thể xảy ra đau đớn với mình trong tương lai, vì như thế là thiếu lòng tin cậy”. (35) Nếu chúng ta ở trong vòng tay của Người Cha yêu thương chúng ta vô hạn, điều này đúng trong mọi hoàn cảnh, thì chúng ta sẽ vượt qua được bất cứ điều gì xảy ra và, bằng cách này hay cách khác, kế hoạch yêu thương và viên mãn của Ngài sẽ được thực hiện trong cuộc đời chúng ta.

Một ngọn lửa giữa màn đêm

25. Têrêsa đã sống đức tin mạnh mẽ và chắc chắn nhất trong bóng tối của màn đêm và cả trong bóng tối của đồi Can-vê. Lời chứng của chị đạt đến đỉnh cao vào giai đoạn cuối đời, trong “thử thách lớn chống lại đức tin” , (36) bắt đầu vào Lễ Phục sinh năm 1896. Trong bản tự thuật của mình, (37) chị đặt thử thách này liên quan trực tiếp đến thực tế đau đớn của chủ nghĩa vô thần thời đó. Thực vậy, chị sống vào cuối thế kỷ 19, “thời hoàng kim” của chủ nghĩa vô thần hiện đại như một hệ thống triết học và tư tưởng. Khi chị viết rằng Chúa Giêsu đã để cho tâm hồn con “bị bóng tối dày đặc xâm chiếm”, (38) chị ám chỉ bóng tối của chủ nghĩa vô thần và sự chối bỏ đức tin Kitô giáo. Khi kết hợp với Chúa Giêsu, Đấng đã gánh lấy mọi bóng tối tội lỗi của thế gian bằng cách đồng ý uống chén Khổ Nạn, Têrêsa nhận ra, trong bóng tối này, sự tuyệt vọng, sự trống rỗng của hư vô. (39)

26. Nhưng bóng tối không thể dập tắt được Ánh sáng: nó đã bị đánh bại bởi Đấng là Ánh sáng, đã đến thế gian (x. Ga 12, 46). (40) Câu chuyện của Têrêsa cho thấy đức tin anh hùng của chị, sự chiến thắng của chị trong cuộc chiến thiêng liêng trước những cơn cám dỗ mạnh mẽ nhất. Chị cảm thấy mình như là người chị em của những người vô thần và ngồi vào bàn ăn với họ, như Chúa Giêsu ngồi với những người tội lỗi (x. Mt 9,10-13). Chị cầu nguyện thay cho họ, trong khi liên tục canh tân hành vi đức tin của mình, luôn hiệp thông yêu thương với Thiên Chúa: “Con chạy đến với Chúa Giêsu của con, con thưa với Ngài rằng con sẵn sàng đổ đến giọt máu cuối cùng để làm chứng có một Thiên Đàng. Con thưa với Ngài rằng con rất vui khi không được tận hưởng Thiên Đàng xinh đẹp này trên trần gian để Ngài có thể mở ra Thiên Đàng vĩnh viễn cho những người tội nghiệp cứng lòng tin.” (41)

27. Cùng với lòng tin, chị sống một cách mãnh liệt niềm tin cậy vô hạn vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa: “Một lòng tin cậy phải dẫn chúng ta đến tình yêu”. (42) Chị nhìn thấy, ngay cả trong bóng tối, lòng tin cậy hoàn toàn của đứa trẻ, không sợ hãi, buông bỏ mình trong vòng tay của cha mẹ mình. Thật vậy, đối với Têrêsa, Thiên Chúa tỏa sáng trên hết nhờ lòng thương xót của Ngài, chìa khóa để hiểu mọi điều nói về Ngài: “Chúa đã ban cho con lòng thương xót vô hạn, và chính nhờ đó mà con được chiêm ngưỡng và tôn kính những sự trọn lành thần linh khác!. .. Khi đó, con thấy tất cả đều rạng ngời tình yêu, chính Công lý (và có lẽ hơn tất cả)con thấy dường như được bao phủ lại bằng tình yêu. (43) Đây là một trong những khám phá quan trọng nhất của Têrêsa, một trong những đóng góp lớn nhất của chị cho toàn thể dân Chúa. Chị đã bước vào vực thẳm của lòng thương xót Chúa một cách phi thường và kín múc từ đó ánh sáng cho niềm hi vọng vô hạn của mình.

Một niềm hi vọng vững chắc

28. Trước khi vào Cát Minh, Têrêsa đã có kinh nghiệm trải qua một sự gần gũi thiêng liêng đặc biệt với một trong những người bất hạnh nhất, tên tội phạm Henri Pranzini, bị kết án tử hình vì tội giết ba người và không ăn năn. (44) Khi hiệp dâng thánh lễ cho anh và cầu nguyện với lòng tin cậy hoàn toàn cho anh được ơn cứu độ, chị chắc chắn sẽ cho anh tiếp xúc với Máu Thánh Chúa Giêsu và chị thưa với Chúa chắc chắn rằng vào giây phút cuối cùng Ngài sẽ tha thứ cho anh và chị tin “ngay cả khi anh ta không thú tộivà không tỏ ra ăn năn”. Chị đưa ra lý do cho sự chắc chắn này: “Con đã đặt biết bao lòng tin cậy vào lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu”. (45) Cảm xúc sau đó chị phát hiện ra rằng Pranzini, khi bị treo trên đoạn đầu đài, “đột nhiên, bị thu hút bởi một nguồn cảm hứng bất ngờ, đã quay lại nắm lấy Cây thánh giá được linh mục tặng cho anh ta và hôn những vết thương thiêng liêng trên đó ba lần !…”. (46) Cảm nghiệm mãnh liệt về niềm hi vọng chống lại mọi hi vọng này là nền tảng đối với chị: “Kể từ ân sủng độc nhất này, ước muốn cứu các linh hồn của con ngày càng lớn lên.” (47)

29. Têrêsa nhận thức được thảm kịch tội lỗi, ngay cả khi chúng ta luôn thấy chị được dẫn vào mầu nhiệm Chúa Kitô, với sự chắc chắn rằng “ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ngập tràn ân sủng ” (Rm 5:20). Tội lỗi của thế gian thì mênh mông nhưng không phải là vô tận. Mặt khác, tình yêu thương xót của Đấng Cứu Chuộc là vô hạn. Têrêsa là nhân chứng cho chiến thắng dứt khoát của Chúa Giêsu trước mọi thế lực sự dữ qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Được thúc đẩy bởi lòng tin cậy, chị dám viết: “Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con cứu được nhiều linh hồn, để ngày nay không còn một ai bị hư mất […]. Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ cho con nếu con nói những điều không nên nói, con chỉ muốn làm Chúa vui và an ủi Chúa”. (48) Điều này cho phép chúng ta chuyển sang một khía cạnh khác của không khí tươi mát, đó là sứ điệp của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan.

3. CON SẼ LÀ TÌNH YÊU

30. “Lớn hơn” đức tin và đức cậy, đức ái sẽ không mất bao giờ (x. 1 Cor 13:8-13). Đó là hồng ân lớn nhất của Thánh Thần, là “mẹ và cội rễ của mọi nhân đức”. (49)

Đức ái như một thái độ cá nhân của tình yêu

31. Truyện một tâm hồn là một chứng tá về lòng bác ái khi Têrêsa đưa ra cho chúng ta lời suy niệm về điều răn mới của Chúa Giêsu: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15, 12) (50). Chúa Giêsu khao khát sự đáp trả đối với tình yêu của Ngài. Thật vậy, “Chúa Giêsu không ngại xin người phụ nữ Samaria một chút nước. Ngài khát... Nhưng khi nói: “cho tôi xin chút nước”, thì chính tình yêu dành cho loài thụ tạo tội nghiệp kia mà Đấng Tạo Hóa của vũ trụ đã ngỏ lời xin. Ngài khao khát tình yêu... (51) Têrêsa muốn đáp lại tình yêu của Chúa Giêsu, lấy tình yêu đáp lại tình yêu. (52)

32. Biểu tượng của tình yêu phu thê diễn tả sự trao đổi qua lại giữa vợ và chồng. Do đó, cảm hứng từ sách Diễm ca (2, 16), chị viết: “Em nghĩ rằng trái tim của phu quân là của riêng em, cũng như trái tim của em là của riêng chàng, và rồi em tâm sự với chàng trong sự cô độc của trái tim ngọt ngào này trong khi chờ một ngày được chiêm ngưỡng Ngài diện đối diện!...". (53) Ngay cả khi Chúa yêu thương tất cả chúng ta với tư cách là một Dân tộc, thì đức ái cũng đồng thời hành động một cách rất riêng tư, “từ trái tim đến trái tim”.

33. Têrêsa có sự xác tín sống động rằng Chúa Giêsu đã yêu thương chị và biết rõ chị trong cuộc Khổ nạn của Ngài: “Chúa yêu con và hiến mạng vì con” (Ga 2:20). Khi nhìn thấy Chúa Giêsu đang hấp hối, chị nói với Ngài: “Chúa sống cho con”. (54) Tương tự như vậy, chị nói với Hài Nhi Giêsu trong vòng tay của Mẹ Ngài: “Với bàn tay nhỏ bé vuốt ve Đức Maria, Ngài đã nâng đỡ thế giới và ban cho nó sự sống. Và Ngài đang nghĩ đến con.” (55) Vì vậy, ngay ở phần đầu Truyện một tâm hồn, chị chiêm ngắm tình yêu của Chúa Giêsu dành cho từng người, như thể đó là tình yêu duy nhất trên thế giới. (56)

34. Hành động yêu thương “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Ngài”, được Têrêsa liên tục trải nghiệm như một hơi thở, là chìa khóa để chị đọc Tin Mừng. Với tình yêu này, chị đắm mình trong tất cả các mầu nhiệm về cuộc đời của Chúa Kitô, những mầu nhiệm mà chị trở nên đương thời, sống trong Tin Mừng với Đức Maria và Thánh Giuse, Maria Mađalêna và các Tông Đồ. Cùng với các ngài, chị thâm nhập vào chiều sâu tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu. Hãy lấy một ví dụ: “Khi con nhìn thấy Mađalêna tiến tới trước mặt rất nhiều quan khách, tưới nước mắt vào chân Thầy yêu quý của mình, người mà chị chạm vào lần đầu tiên; con cảm thấy rằng trái timchị đã hiểu được chiều sâu tình yêu và lòng thương xót của Trái tim Chúa Giêsuvà dù chị là người tội lỗi, Trái tim tình yêu này không chỉ sẵn sàng tha thứ cho chị mà còn ban phát cho chị muôn vàn điều thiện hảo từ sự thân mật thiêng liêng với Ngài, để nâng chị lên đỉnh cao chiêm niệm. (57)

Ban hành tại Rôma, Vương cung Thánh đường Gioan Lateranô, ngày 15 tháng 10,
kính nhớ Thánh Têrêsa Avila, năm 2023,
năm thứ 11 trong Triều đại Giáo hoàng của tôi.
Phanxicô

Chuyển ngữ: Đình Chẩn
Chuyển ngữ từ: vatican.va
Nguồn: giaophanphatdiem.org

____________________________

Chú thích:

(1) Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan, Tác phẩm Toàn Tập, Thư 197, gửi Nữ tu Marie Thánh Tâm (17/09/1896), Paris 1996, tr. 553.

Phiên bản này sẽ luôn được tham khảo bằng các chữ viết tắt sau: Ms A: Thủ bản tự thuật “A”; Ms B: Thủ bản tự thuật “B”; Ms C: Thủ bản tự thuật “C”; LT: Thư; PN: Thơ; Pri: Lời cầu nguyện; CJ: “Sổ tay màu vàng”; DE: Những cuộc gặp cuối cùng.

(2) Lời Cầu Nguyện 6, Dâng mình làm Hiến lễ Toàn thiêu cho Tình Yêu Thương Xót của Thiên Chúa Nhân Lành (09/06/1895), tr. 963.

(3) Trong giai đoạn 2022-2023, UNESCO đã liệt kê Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Thánh Nhan là những nhân vật được tôn vinh nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh của thánh nữ.

(4) Ngày 29 tháng 4 năm 1923.

(5) X. Sắc lệnh về các nhân đức (14-8-1921): AAS 13 (1921), tr. 449-452.

(6) Bài giảng lễ phong thánh (17/05/1925): AAS 17 (1925), tr. 211.

(7) X. AAS 20 (1928), tr. 147-148.

(8) X. AAS 36 (1944), tr. 329-330.

(9) Thư gửi Đức Cha F. Picaud, Giám mục Bayeux và Lisieux (7-8-1947) trong Analecta OCD 19 (1947), tr. 168-171; Thông điệp phát thanh về việc cung hiến Vương cung thánh đường Lisieux (11/07/1954): AAS 46 (1954), tr. 404-407.

(10) X. Thư gửi Đức Cha Jean-Marie-Clément Badré, Giám mục Bayeux và Lisieux, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (02/01/1973): AAS 65 (1973), trang. 12-15.

(11) X. AAS 90 (1998), 409-413, tr. 930-944.

(12) Tông thư New Millennio ineunte (6 tháng 1 năm 2001), n. 42: AAS 93 (2001), tr. 296.

(13) Giáo Lý (6/4/2011): L’Osservatore Romano, ed. bằng tiếng Pháp (7/4/2011), tr. 1.

(14) X. Giáo lý (7 tháng 6 năm 2023): L’Osservatore Romano, ed. bằng tiếng Pháp (ngày 8 tháng 6 năm 2023).

(15) Thư 220, gửi Cha Bellière (24/02/1897), tr. 576.

(16) Thủ bản tự thuật A, 69v°, tr. 187.

(17) Thủ bản tự thuật C, 33v°-37r°, tr. 280-285.

(18) X. Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng (24/11/2013), n. 14: AAS 105 (2013), tr. 1025-1026.

(19) Thủ bản tự thuật C, 34r°, tr. 281.

(20) Cùng nguồn, 36r°, tr. 284.

(21) CJ, ngày 9 tháng 6 năm 1897, 3, tr. 1013.

(22) X. Thủ bản tự thuật C, 2v°-3r°, tr. 237-238.

(23) Cùng nguồn, 2v°, tr. 237.

(24) Cùng nguồn, 3r°, tr. 238.

(25) Thủ bản tự thuật A, 84v°, tr. 213.

(26) X. Tông huấn, Hãy Vui Mừng Hoan Hỷ (19/03/2018), nn. 47-62: AAS 110 (2018), tr. 1124-1129.

(27) Thủ bản tự thuật A, 32r°, tr. 120.

(28) Công đồng Trentô giải thích điều đó như thế này: “Bất cứ ai tự xem xét chính mình, cũng như sự yếu đuối và khuynh hướng xấu xa của mình, có thể tràn đầy sợ hãi và sợ hãi về chính ân sủng” (Sắc lệnh về Công chính hóa, IX: DS, n. 1534). Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo đề cập đến điều này khi dạy rằng không thể có sự chắc chắn về chính mình hoặc việc làm của mình (cf. n. 2005). Sự chắc chắn của lòng tin cậy không được tìm thấy trong chính chúng ta; cái tôi của chính mình không cung cấp cơ sở cho sự chắc chắn này, vốn không dựa trên sự xem xét nội tâm. Theo một cách nào đó, Thánh Phaolô đã diễn tả điều đó như thế này: “Tôi thậm chí không xét đoán chính mình. Lương tâm tôi không trách móc tôi điều gì, nhưng đó không phải là lý do tại sao tôi nên công chính: Đấng phán xét tôi chính là Chúa” (1 Cr 4,3-4). Thánh Tôma Aquinas đã giải thích điều đó như thế này: vì “ân sủng theo một cách nào đó thì không hoàn hảo theo nghĩa không hoàn toàn chữa lành con người” (Summa I-II, q. 109, art. 9, ad 1), “cũng vẫn còn một sự mù mờ nhất định của sự thiếu hiểu biết trong trí thông minh” (ibid., co).

(29) Lời cầu nguyện 6, tr. 963.

(30) Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, n. 2011.

(31) Công đồng Trentô cũng tuyên bố rõ ràng: “Không người đạo đức nào được nghi ngờ lòng thương xót của Thiên Chúa” (Sắc lệnh về Công chính hóa, IX: DS, n. 1534). “Tất cả phải đặt và yên nghỉ trong sự giúp đỡ của Thiên Chúa niềm hi vọng vững chắc nhất” (Ibid., XIII: DS, n. 1541).

(32) Thủ bản tự thuật B, 1v°, tr. 220.

(33) Thủ bản tự thuật A, 48v°, tr. 148; LT 92, gửi Marie Guérin (30 tháng 5 năm 1889), tr. 393.

(34) Lời cầu nguyện 6, tr. 963.

(35) CJ, 23/7/1897, 3, tr. 1054.

(36) Thủ bản tự thuật C, 31rº, tr. 277.

(37) X. ibid., 5r°-7vº, pp. 240-244.

(38) Như trên, 5v, tr. 241.

(39) X. ibid., 6vº, pp. 242-243.

(40) X. Tông Thư, Ánh sáng Đức tin (29-6-2013), n. 17: AAS 105 (2013), tr. 564-565.

(41) Thủ bản tự thuật C, 7rº, tr. 243.

(42) Thư 197, gửi Chị Maria Thánh Tâm (17/09/1896), tr. 553.

(43) Thủ bản tự thuật A, 83v, tr. 211.

(44) X. ibid., 45vº-46vº, pp. 143-145.

(45) Cùng nguồn, 46 rï, tr. 144.

(46) Như trên.

(47) Cùng nguồn, 46vº, tr. 144.

(48) Lời cầu nguyện 2, tr. 958.

(49) Tổng luận Thần học, I-II, q. 62, art. 4.

(50) X. Thủ bản tự thuật C, 11v°-31r°, tr. 249-276.

(51) Thủ bản tự thuật B, 1v, tr. 220-221.

(52) X. ibid., 4rº, pp. 227-228.

(53) Thư 122, gửi Céline (14/10/1890), tr. 431.

(54)Thơ 24, 21, tr. 697.

(55) Nt, 6, tr. 693.

(56) X. Thủ bản tự thuật A, 3rº, tr. 73.

(57) Thư 247, gửi Thầy Bellière (21/06/1897), tr. 603-604.