Đạo Mẫu (6)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 2543 | Cật nhập lần cuối: 2/28/2016 9:24:49 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

(tiếp theo)

III. TỪ THỜ NỮ THẦN ĐẾN THỜ MẪU VÀ TAM TOÀ THÁNH MẪU (Đạo mẫu)

1. Từ thờ Nữ Thần đến thờ Mẫu

Ở Việt Nam, chưa ai thống kê một cách hệ thống và đầy đủ các Nữ thần được nhân dân tôn vinh và thờ phụng, tuy nhiên, không ngần ngại khi cho rằng việc thờ phụng này đã có từ rất lâu đời và phổ biến ở nhiều dân tộc, ở đồng bằng cũng như miền núi, hiện còn quan sát thấy ở cả nông thôn lẫn đô thị.

Hãy lấy cuốn sách cổ Hội chân biên, in năm 1847 đời Triệu Trị, do Thanh Hoà Tử tập hợp, thì trong 27 vị thần tiên có nguồn gốc thuần Việt, thì đã có 17 là Tiên nữ. Còn trong cuốn sách Các Nữ thần Việt Nam viết đời nay, thì đã có công tập hợp và giới thiệu bước đầu 75 vị Nữ thần tiêu biểu của nước ta. (7) Trong sách: Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, trong số 1000 di tích được giới thiệu thì đã có 250 di tích thờ cúng các nữ thần và danh nhân là nữ (8). Riêng xung quanh quần thể di tích Phủ Giầy thờ Mẫu Liễu, người ta cũng tìm thấy hơn 20 đền miếu thờ các nữ thần.

Đạo Mẫu (6)

Trong vốn huyền thoại và truyền thuyết của Việt Nam, các vị nữ thần gần với việc tạo lập bản thể của vũ trụ, như Nữ thần Mặt Trời - Nữ thần Mặt Trăng, Bà Nữ Oa cùng ông Tứ Tượng đội đá vá trời, đắp núi, khơi sông. Các hiện tượng: Mây, mưa, sấm, chớp (Tứ Pháp) cũng được thần thánh hóa và mang tính nữ. Các yếu tố mang tính bản thể vũ trụ, như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ được gắn với các Bà: Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hỏa...

Đến biểu tượng đất nước - Quê hương - dân tộc cũng gắn với các Mẹ (Mẫu): Mẹ Âu Cơ của Lạc Việt, Mẹ Quê Hương - xứ sở Pon Nagar của người Chăm. Các Mẹ sản sinh ra các giá trị văn hóa: Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa, các Mẹ là tổ sư các nghề: dệt, tằm tang, làm muối, nghề mộc, làm bánh, ca công... Rồi phụ nữ ra trận "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh đứng ra chấp chính quốc gia cũng trở thành các Nữ tướng - Nữ thần: Hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân, vợ ba Đê Thám...

Các vị nữ thần kể trên từ bao đời nay đã được nhân dân ta tôn làm Thần, Thánh, được Triều đình ban sắc phong là Thượng đẳng thần, là Thành hoàng của nhiều làng, trong đó Liễu Hạnh công chúa được dân gian tôn vinh là một trong Tứ bất tử của đất nước.

Trong các huyền thoại và truyền thuyết kể trên, có những cái xuất phát từ những thực tế lịch sử, tuy nhiên, không ít trường hợp là kết quả của sự thêu dệt hoang đường, phi thực. Nhưng một thực tế hiển nhiên, đó là vai trò và vi trí hết sức to lớn của ngườiphụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Thực tế này hoàn toàn có thể lý giải được trên có sở xem xét môi trường tự nhiên, đời sống sản xuất, chiến đấu, xã hội cổ truyền của người Việt và các dân tộc khác sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Trong hàng các nữ thần, một số vị được tôn vinh là mẫu - Thánh Mẫu - Vương Mẫu - Quốc Mẫu... Như vậy, Mẫu là Nữ thần, nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu. Về mặt danh xưng Mẫu là từ gốc Hán - Việt, còn thuần Việt là Mẹ - Mụ". Mẹ, Mụ là danh xưng chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô thân thiết của con cái với người đã sinh hạ ra mình. Tuy nhiên, Mẹ, Mẫu còn bao hàm nghĩa rộng hơn mang tính tôn xưng, tôn vinh: Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu,Mẫu Nghi thiên hạ...

Tuy chưa thống kê đầy đủ, nhưng cách tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Vương Mẫu thường có liên quan tới các trường hợp sau:

- Các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu nhất là Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ: Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng thiên (có lúc đồng nhất với Mẫu Liễu), Mẫu Thượng Ngạn, Mẫu Thoải, Mẫu Đại (Địa Tiên Thánh Mẫu), Mẫu Thiên Ya Na...

- Các Thái hậu (Mẹ vua), Hoàng hậu (vợ vua), Công chúa (con gái vua) có tài năng, công đức, khi mất hiển linh và được tôn xưng là Mẫu: Quốc Mẫu, Vương Mẫu, như Tống Hậu, Thái Hậu họ Đỗ tượng truyền là mẹ Lý Thần Tông, Ỷ Lan, con gái Vua Hùng Nghị Vương thờ ở đền Cao Mại (Vinh Phú), Ỷ Lan - Mẫu nghi thiên hạ.

- Các trường hợp khác cũng tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu: Diệp Phu nhân - Quốc Mẫu - Thánh Ân thờ ờ đền Trần Yên - Yên Bái. Thân núi Tam Đảo - Quốc Mẫu Sơn Thượng đẳng thân, Mẹ Thánh Gióng - Vương Mẫu...

Cùng hệ thống này ở miền Trung và nhất là Nam Bộ, một số nữ thần cũng được tôn vinh là Mẫu: Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen), chúa Bà Chúc Xứ (Núi San), Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Sắt...

Như vậy các Mẫu - Thánh Mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần, vừa có nguồn gốc nhân thần, là hình thức tín ngưỡng nâng cao, lên khuôn từ cái nền thờ Nữ thần vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc ta.

2. Từ thờ mẫu đến Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ (Tam Tòa Thánh Mẫu)

a. Không nên đồng nhất hoàn toàn giữa thờ Mẫu với Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ (Tam Toà Thánh Mẫu) mà từ thờ Nữ thần, thờ Mẫu đến Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ là bước phát triển về nhiều mặt. Tác nhân của sự phát triển ấy vừa có nhân tố nội sinh vừa có nhân tố ngoại sinh.

Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ so với tín ngưỡng thờ Mẫu thần nói riêng và thờ thần nói chung đã có bước đầu phát triển đáng kể về tính hệ thống. Trước nhất, vốn là một tín ngưỡng dân gian mang tính tản mạn, rời rạc, nay bước đầu quy về một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với các phủ (Thiên Phủ, Địa Phủ, Thoải Phủ, Nhạc Phủ), các hàng thần (Ngọc Hoàng - Mẫu - Quan - Chầu - Ông Hoàng, Cô, Cậu...) tương đối rõ rệt. Một điện thần với hàng trăm vị thần lớn nhỏ đều quy về vị Thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu, mặc dù trên Thánh Mẫu còn có Ngọc Hoàng, nhưng đó là lớp ảnh hưởng Đạo giáo sau này và nặng về hình thức.

Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ bước đầu đã chứa đựng những nhân tố về vũ trụ luận nguyên sơ, một vũ trụ thống nhất chia thành bốnmiền do bốn vị Thánh Mẫu cai quản: Mẫu Thượng Thiên - Miền trời, Mẫu Địa (Địa Tiên Thánh Mẫu) - miền đất, Mẫu Thượng Ngàn - Miền đồi núi, Mẫu Thoải - Miền nước. Mẫu chỉ là một lực lượng sáng tạo và cai quản vũ trụ, đã hóa thân thành bốn, cai quản 4 miền của vũ trụ.

Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ bước đầu đã thể hiện một ý thức nhân sinh, - ý thức về cội nguồn dân tộc, đất nước, chứa đựng lòng yêu nước - một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hóa và Mẫu là biểu tượng cao nhất.

Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ đã bước đầu hình thành một hệ thống thờ cúng trong các Đền, Phủ, những nghi lễ thờ cúng đã được chuẩn hóa, trong đó nghi lễ Hầu bóng lễ hội Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ là một điển hình.

Trong quá trình biến đổi, phát triển từ thờ Mẫu đến Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ, chúng ta đắc biệt chú ý tới giai đoạn từ thế kỷ XVI trở đi - giai đoạn xuất hiện Mẫu Liễu - quan niệm dân gian thường coi Bà là hoá thân, thậm chí đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, trở thành một vị thần chủ của Đạo Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ.

Tất nhiên, sự xuất hiện của vị Thánh Mẫu này ở vào khoảng thế kỷ XVI vừa xuất phát từ nhu cầu phát triển nội tại của thứ tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa phản ảnh khát vọng của quần chúng nhân dân thời Lê mạt, xã hội rối loạn, nhân tâm ly tán, mà một trong biểu hiện của nó là các cuộc khởi nghĩa nông dân triền miên. Với vị Thần chủ này, Đạo Mẫu vốn là một tín ngưỡng gần với thiên nhiên, trời đất, nay được đời thường hóa, gắn liền và đáp ứng những khát vọng của con người, thân phận của con người nhất là người phụ nữ trong đời sống hàng ngày: tài lộc, chữa bệnh, ban phúc, giáng họa và chính từ đây, Đạo Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ có được bộ mặt mới, vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa rất cập thời, làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan toả khắp mọi miền đất nước, theo gót người Việt Nam tiến để Mẫu hóa các tín ngưỡng bản địa khác, vừa có cơ hội tập trung thành trung tâm thờ Mẫu lớn, như Phủ Giầy (Nam Hà), Hòn Chén (Huê), Phủ Tây Hồ (Hà Nội).

Và cùng với sự xuất hiện vị thần chủ này, thì hệ thống điện Thần, quan niệm nhân sinh và vũ trụ, đặc biệt là các nghi lễ - lễ hội càng thể hiện tính hệ thống hơn.

Tất nhiên, bên cạnh sự "lên khuôn", hệ thống hóa nói trên, trong Đạo Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ vẫn còn ẩn chứa nhiều yếu tố tín ngưỡng, ma thuật, những sắc thái và biến dạng địa phương... khiến nhiều người mới bước vào tìm hiểu có cảm giác như lạc vào thế giới thần linh hỗn độn, phi hệ thống, tuỳ tiện.

b. Để từ tục thờ Nữ Thần, Mẫu thần phát triển lên thành Đạo Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ, thì ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc có vai trò quan trọng. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Đạo giáo Trung Quốc du nhập vào nước ta khá sớm, ít nhất là từ thời bắc thuộc. Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần thì Lão giáo là một trong Tam giáo đồng nguyên. Nhà vua đã từng đứng ra phong cho các đạo sĩ, trong các trường thi cũng có các đề nói về Đạo giáo, nhiều người trong Hoàng tộc cũng là Đạo sĩ. Lý thuyết Lão gia đã ăn sâu vào ý thức của nhiều trí thức đương thời, nhiều phương thuật, ma thuật của Đạo Lão lan truyền trong nhân dân. Đến đời Lê Nho giáo thịnh hành, Lão giáo không được coi trọng, nhưng triết lý cũng như pháp thuật của nó không phải không lưu hành rộng rãi. Điển hình là việc Vua Lê Thần Tông cho phép Trần Lộc lập ra Đạo Nội Tràng.

Đạo Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc về nhiều phương diện. Đó là các quan niệm về tự nhiên, đồng nhất con người với tự nhiên, về quan niệm Tứ Phủ - Tam Phủ, một số vị Thánh của Đạo giáo thâm nhập vào điện thần Tứ Phủ, như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu. Đó còn là các truyện thần tiên huyền ảo, các phép thuật mang tính phủ thuỷ để trừ ma tà... Ngày lễ Hầu Bóng của Đạo Mẫu Việt Nam cũng không phải không chịu ảnh hưởng các hình thức lên đồng của đạo giáo Trung Quốc. Chính những ảnh hưởng này, một mặt giúp Đạo Mẫu lên khuôn, hệ thống hóa và bước đầu mang tính phổ quát nguyên lý Mẫu- Mẹ, nhưng mặt khác cũng làm tăng thêm tính ma thuật, phù thuỷ mà vốn trong dân gian đã từng tiền ẩn.

Như vậy trên cơ sở tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian, với những ảnh hưởng đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định hình Đạo Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ (Tam toà Thánh Mẫu), một thứ Đạo giáo đặc thù của Việt Nam, và có thể gọi một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn - ĐẠO MẪU.

IV. ĐẠO MẪU TRONG HỆ THỐNG TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG CỦA VIỆT NAM

Trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam đã từng tồn tại rất nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Trước nhất là các tín ngưỡng, các tục thờ cúng mang tính bản địa hay mang đậm màu sắc bản đại, như thờ cúng tổ tiên, thờ thành Hoàng ở các làng xã thờ các vị Thần (tổ sư các nghề, các vị thần linh bảo trợ, các anh hùng có công với dân với nước...); các tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Thiên chúa giáo, Ấn giáo, Hồi giáo; một số tôn giáo mang tính đại phương, như đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo... Người Việt Nam chấp nhận mọi thứ tín ngưỡng tôn giáo, dù bản địa hay ngoại lai, miễn là nó phù hợp với nền tảng đạo đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Các tôn giáo tín ngưỡng này không rạch ròi phân biệt, mà chúng thường thâm nhập và lồng vào nhau. Người theo Đạo Phật vẫn thờ cúng tổ tiên, Thành Hoàng, Thờ Thần Mẫu... Các tôn giáo từ ngoài du nhập vào thường bị biến dạng để thích ứng với đời sống tâm linh con người Việt Nam, nên xu hướng dân gian hóa các tôn giáo là hiện tượng dễ thấy, như với Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Lão và mức độ nào đó cả Đạo Thiên Chúa nữa, Người Việt Nam theo nhiều đạo, nhưng không hướng về các giáo lý cao xa hay cuồng tín si mê, mà chủ yếu là khai thác các mặt đạo lý, cách thức ứng xử giữa con người với con người.

Thoát thai từ đạo Thờ Thần và chịu những ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáo Trung Quốc, Đạo Mẫu với tư cách là một biến thể của Đạo Giáo Việt Nam đã và đang thâm nhập và ảnh hưởng tới các tín ngưỡng tôn giáo khác.

Cùng một loại hình Đạo Giáo, Đạo Mẫu rất gần gũi với Đạo Thiên trong cả quan niệm, thần điện và nghi thức thờ cúng. Hơn thế nữa, vị thần chủ của Đạo Mẫu là Liễu Hạnh đồng thời cũng là một vị Tiên tiêu biểu của Việt Nam. Đấy chưa kể các hình thức nghi lễ cầu Tiên, luyện đồng, giáng bút của hai loại đạo này cũng có rất nhiều nét vay mượn của nhau. Tương tự như vậy ta có thể nói tới mối quan hệ giữa đạo Mẫu và tín ngưỡng Tứ Bất Tử của nước ta, trong đó vị thần chủ đạo Mẫu đồng thời lại là một trong bốn vị Thánh Bất Tử. (9)

Cùng xuất phát từ đạo thờ Thần, nhưng giữa đạo Mẫu và thờ Thành Hoàng các làng xã ít có quan hệ gắn bó, mặc dù nhiều vị Thánh của đạo Mẫu đồng thời cũng là Thành hoàng của khá nhiều làng xã. Phải chăng cùng gốc thờ Thần, nhưng tục thờ Thành hoàng đi theo con đường tiếp thu Nho giáo và chịu sự kiểm soát của triều đình thông qua việc phong sắc cho các Thành Hoàng, còn đạo Mẫu lại tiếp thu Đạo giáo và nằm ngoài vòng kiểm soát của triều đình, có lúc còn trở thành đối địch, các triều đại phong kiến không thừa nhận thứ đạo này.

Đạo Mẫu cũng tiếp thu những ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên, một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng Việt Nam. Điện thần của đạo Mẫu mang tính gia tộc có Vua Cha, Thánh Mẫu, có thánh Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ, chẳng qua cũng là một dạng phóng đại của mô thức gia đình và thờ cúng tổ tiên. Chúng tôi ngờ rằng việc thờ Cô và thờ Cậu của đạo Mẫu có cỗi nguồn sâu xa từ việc thờ cúng những người chết trẻ, Bà Cô, Ông Mãnh, một yếu tố rất quan trọng trong thờ cúng tổ tiên ở các gia tộc và dòng họ.

Trong quá trình đạo Phật du nhập vào nước ta và một bộ phận quan trọng của nó đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hóa, giữa đạo Phật và đạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu sắc. Điều dễ nhận biết nhất là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu, trong đó phổ biến nhất là dạng tiền Phật hậu Mẫu. Phải chăng, theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền thì việc xuất hiện điện Mẫu và tượng Mẫu trong của mới chỉ thấy ở giai đoạn muộn? (10). Người ta đi chùa vừa để lễ Phật vừa để cúng Mẫu. Nhiều khi điện Mẫu đã tạo nên không khí ấm cúng, nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng. Có nhiều ngôi chùa ở Nam bộ lại thờ Mẫu là chính, như chùa Hang ở Linh Sơn (Núi Bà Đen) hay chùa Bà ờ thành phố Hồ Chí Minh. (11)

Không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa, mà còn có con đường ngược lại - Phật đi vào các đền phủ thờ Mẫu. Trong điện thần cũng như cách thức phối tự các ngôi đền, phủ, ta đều thấy sự hiện diện của Phật, mà đại diện cao nhất là Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, Quan Âm trong Phật giáo Ấn Độ vốn là một nam thần nhưng khi qua Trung Quốc và nước ta đã bị "nữ thần hóa, thậm chí Mẫu hóa để trở thành Quan Âm thánh Mẫu của đạo Mẫu Việt Nam. Trong các ngày giỗ Mẫu - giỗ Mẹ, đều có nghi thức rước Mẫu lên chùa để đón Phật về đền phủ cùng tham dự ngày hội. Trong hệ thống các bài chầu văn thì có văn chầu Nhị vị Bồ Tát...

Truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa còn ghi rõ sự tích Sòng Sơn đại chiến. Theo đó, trong lúc Mẫu Liễu đang bị các đạo sĩ của phái Đạo Nội dồn vào tình thế nguy kịch thì Thích Ca Mầu Ni đã ra tay cứu độ, giải thoát cho Liễu Hạnh công chúa. Từ đó, Thánh Mẫu Liễu Hạnh quy y, nghe kinh tuân pháp, chuyển hóa từ bi theo gương Phật.

Tất nhiên, trong khung cảnh nông thôn Việt nam, sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai thứ tôn giáo tín ngưỡng dân dã là điều dễ hiểu. Cũng là tín ngưỡng dân dã của người dân, cùng hướng về cái từ bi bác ái, tinh thần cộng đồng, khuyến thiện trừ ác, nền tảng của những nguyên tắc ứng xử xã hội cổ truyền. Với lại, dường như hai thứ tín ngưỡng này có cái gì đó bổ xung cho nhan, đáp ứng nhu cầu tâm linh của người nông dân: Theo Phật để tư nhân tích đức cho đời kiếp sau được lên cõi Niết Bàn cực lạc; còn theo đạo Mẫu là mong được phù hộ độ trì mang lại sức khỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống hiện hữu thường ngày.

Còn với Ấn Độ giáo và Thiên Chúa giáo thì đạo Mẫu cũng không tạo ra bức tường ngăn cách. Hơn thế nữa truyền thống tôn thờ Mẫu của người Việt Nam cũng có cái gì đó gần gũi với biểu tượng Đức Mẹ Maria của đạo Thiên Chúa. Do vậy, khi du nhập nó vào nước ta, những người truyền đạo không phải không nhận ra nét tương đồng giữa đạo Mẫu bản địa và Thiên Chúa giáo, lợi dụng nó trong việc truyền đạo. Với đạo Hinđu (Ấn Độ Giáo) xa xôi về nhiều phương diện, nhưng người Việt không phải là không Việt hoá các vị thần của đạo này, biến nó thành một dạng của Thánh Mẫu người Việt. Việc tôn thờ Bà Đen ở Linh Sơn và Bà chúa Xứ ở Núi Sam là những thí dụ điển hình cho xu hướng bản địa hóa ấy.

(còn tiếp)

GS-TS Ngô Đức Thịnh

Trung tâm Nghiên cứu & Bảo tồn Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam

Nguồn: daomauvietnam.com

----------------------------------------------------------------

* Bài liên quan:

Đạo Mẫu (5)

Đạo Mẫu (4)

Đạo Mẫu (3)

Đạo Mẫu (2)

Đạo Mẫu (1)