Đóng góp của Đức TGM Sheen cho Sắc lệnh 'Ad Gentes' về hoạt động truyền giáo của Giáo hội
Đây là một giai thoại ít được biết đến về Công đồng Vaticanô II, nhưng sắc lệnh của Công đồng về các vùng truyền giáo lại có công rất lớn từ vị giám mục người Mỹ duy nhất: Fulton J. Sheen.
Trong số gần 2.500 giám mục tham dự bốn khóa họp của Công đồng Vaticanô II từ tháng 10 năm 1962 đến tháng 12 năm 1965, Đức TGM Fulton J. Sheen đã tích cực tham gia vào các cuộc bàn luận và để lại một hồ sơ đáng kể về những phát biểu của mình. Được Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII bổ nhiệm vào Ủy ban Hoạt động Công giáo tiền Công đồng, rồi vào Ủy ban Truyền giáo, ngài là thành viên người Mỹ duy nhất của ủy ban này trong suốt Công đồng, vượt Đại Tây Dương ba hoặc bốn lần mỗi năm để tham dự các phiên họp được tiến hành hoàn toàn bằng tiếng Latinh, ngôn ngữ chính dành cho các văn kiện của Công đồng. ĐGH Bênêđictô XVI từng nhắc lại sự hiện diện ấy trong chuyến viếng thăm năm 2012 tại nhà “Ad Gentes” của Dòng Ngôi Lời tại Nemi, nơi Ủy ban Truyền giáo đã từng tổ chức các cuộc họp: “Ở đó có sự hiện diện của rất nhiều nhà thần học vĩ đại, với nhiệm vụ cao quý và quan trọng là soạn thảo một Sắc lệnh về Truyền giáo.” Sau khi nhắc đến Cha Schütte, Bề trên Tổng quyền của Dòng Ngôi Lời, người từng sống tại Trung Quốc, “tràn đầy nhiệt huyết truyền giáo, ý thức về nhu cầu đem lại một động lực mới cho tinh thần truyền giáo” và là người đã mời ngài đến, ngài ghi nhớ Đức TGM Fulton J. Sheen, “người đã khiến chúng tôi say mê vào mỗi buổi tối bằng những bài nói chuyện của ngài,” Cha Y. Congar và các nhà sứ mạng học (missiologia) vĩ đại của Louvain. ĐGH Bênêđictô XVI nói: “Đối với tôi, đó là một sự phong phú thiêng liêng, một món quà lớn lao. Sắc lệnh không gặp phải sự chống đối đáng kể nào. Tuy nhiên, đã có một cuộc bàn luận mà tôi chưa bao giờ thực sự hiểu thấu đáo, giữa trường phái Louvain và trường phái Münster: mục đích chính của sứ mạng là thiết lập Giáo hội (implantatio Ecclesiae) hay là làm bén rễ Tin Mừng (implantatio Evangelii)? Nhưng tất cả đều hội tụ vào một động lực duy nhất: nhu cầu đem ánh sáng của Lời Chúa, ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa, đến với thế giới và qua lời công bố ấy đem lại niềm vui mới.”
Những cuộc trò chuyện riêng với Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII
Từ rất lâu trước khi Công đồng Vaticanô II khai mạc, Đức TGM Fulton J. Sheen đã cảm nhận được rằng một sự thay đổi đang đến gần trong Giáo hội Công giáo.
Khi cầu nguyện tại Lộ Đức vào mùa hè năm 1959, chỉ vài tháng sau khi Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII tuyên bố ý định triệu tập một Công đồng, vị giám mục người Mỹ đã đặc biệt chú ý đến đám đông những người hành hương bình thường. Ngài nói với một người đồng hành: “Đây là Giáo hội của người nghèo,” trước hết ngài muốn nói đến những người nghèo trong tinh thần - một cách diễn đạt báo trước sự nhấn mạnh mà sau này ngài sẽ đưa ra tại các phiên họp của Công đồng. Sự nhấn mạnh ấy phần nào bắt nguồn từ mối quan hệ thực sự mang tính cá nhân của ngài với vị Giáo hoàng đã khởi xướng dự án này.
Hằng năm, khi gặp Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII với tư cách Giám đốc Quốc gia của Hội Giáo hoàng về Truyền bá Đức tin, Đức TGM Fulton J. Sheen dần trở thành một người thân tín: Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã nói với ngài, trước khi công bố công khai, về quyết định triệu tập Công đồng; và trong một buổi tối riêng, khi đi cùng ngài qua các căn hộ của mình, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã trao cho ngài một nhẫn giám mục và một thánh giá đeo ngực, đồng thời nói: “Bây giờ hãy bỏ chúng vào túi và tạm thời giấu đi. Tôi không muốn làm cho các giám mục khác ghen tị.”
Sứ mạng của Giáo hội “bị tổn thương bởi sự nghèo khó”
Niềm xác tín của Đức TGM Fulton J. Sheen cũng được tôi luyện qua những chuyến giảng thuyết tại Mỹ Latinh và châu Phi trước và trong Công đồng: những cuộc đại truyền giáo tại Argentina và Brazil, các trạm truyền giáo ở Kenya, một khu dân cư dành riêng cho người da đen trong thời kỳ Johannesburg còn dưới chế độ phân biệt chủng tộc (apartheid). Sau này ngài viết: “Tôi bắt đầu nghĩ ít hơn về vấn đề nghèo khó và nhiều hơn về những người nghèo,” rồi nói thêm: “Chuyến du hành đây đó chỉ đơn thuần là sự khẳng định về giáo huấn thần học rằng nhân loại là một.”
Dấu ấn đáng kể nhất của ngài trên một văn kiện riêng của Công đồng đến từ cuộc bàn luận về bản dự thảo nói về sứ mạng, sau này trở thành Sắc lệnh Ad Gentes (Đến với muôn dân). Là người phát biểu cuối cùng trong số hai mươi tám nghị phụ của Công đồng vào ngày 09 tháng 11 năm 1964, sau khi nhiều vị đã chỉ trích bản dự thảo ban đầu, Đức TGM Fulton J. Sheen đã đặt lại vấn đề: thay vì câu hỏi mang tính khái niệm “Các vùng truyền giáo là gì?” ngài đặt ra câu hỏi thực tế “Các vùng truyền giáo nằm ở đâu?”. Ngài lập luận rằng các vùng truyền giáo không chỉ hiện diện tại những “lãnh thổ ngoài Kitô giáo,” mà còn ở những giáo phận nghèo, thiếu linh mục, chưa bao giờ được chính thức xếp loại thành vùng truyền giáo; tại đó, các giám mục tìm đến ngài để xin trợ giúp từ những nơi chỉ có “bảy đến mười linh mục chăm sóc 50.000 dặm vuông.” Về những nơi ấy, ngài đặt câu hỏi: “Đó có phải là Kitô giáo không? Có phải là Công giáo không? Có xứng đáng với đức ái của Đức Kitô không khi nói với họ rằng ‘Anh em không thuộc vùng truyền giáo’?” Ngài lưu ý rằng chính Thông điệp Ecclesiam Suam (Giáo hội của Chúa) của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI cũng chỉ hiếm khi sử dụng từ “sứ mạng,” mà thay vào đó ưu tiên từ “đối thoại,” đồng thời cảnh báo chống lại những sự phân chia theo thẩm quyền: “Trong Thân Thể Đức Kitô không có ‘các Giáo hội mới,’ cũng không có ‘các Giáo hội cũ,’ vì tất cả chúng ta đều là những tế bào sống động trong Thân Thể ấy, lệ thuộc vào nhau,” ngài nói. Như một giải pháp, ngài ủng hộ một ý tưởng vốn đã được ghi trong chính bản dự thảo: một cơ quan điều phối mới, “Hội đồng Trung ương Truyền bá Tin mừng,” mà ngài gọi là “giải pháp Công giáo đích thực cho vấn đề về sự đa dạng của các vùng truyền giáo này.”
Một nghị phụ đã đề nghị xóa mọi đề cập đến sự nghèo khó khỏi văn kiện; nhưng Đức TGM Fulton J. Sheen lại thúc đẩy lập trường ngược lại, mời gọi các nghị phụ “đặt ngón tay lên vĩ tuyến 30; vẽ nó quanh quả địa cầu, nâng nó lên một chút về phía trên Trung Quốc,” bởi vì “thực tế hầu như toàn bộ sự thịnh vượng nằm phía trên vĩ tuyến 30, còn phần lớn sự nghèo khó của thế giới nằm phía dưới vĩ tuyến 30, tức là ở châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh.” Ngài kết thúc bằng câu nói được nhớ đến nhiều nhất của mình tại Công đồng: “Như đức khiết tịnh là hoa trái của Công đồng Trentô, và sự vâng phục là hoa trái của Công đồng Vaticanô I, thì ước mong tinh thần nghèo khó cũng trở thành hoa trái của Công đồng Vaticanô II,” và kết luận rằng “chỉ một Giáo hội bị tổn thương bởi sự nghèo khó mới có thể hoán cải một thế giới đang hoài nghi.”
Sắc lệnh được hoàn tất - là sắc lệnh đầu tiên trong lịch sử các Công đồng dành riêng cho hoạt động truyền giáo - đã được thông qua với đa số áp đảo và mang trong đó nhiều điều mà Đức TGM Fulton Sheen cũng đã lập luận: một lời khẳng định mạnh mẽ về bổn phận của Giáo hội đối với người nghèo, sự phối hợp thông qua Bộ Truyền bá Đức tin (tiền thân của Bộ Loan báo Tin mừng cho các Dân tộc), và tuyên bố rằng mỗi giám mục “được thánh hiến không chỉ cho một giáo phận nào đó, mà còn cho phần rỗi của toàn thể thế giới.”
Đức TGM Fulton Sheen tiếp tục áp dụng cùng một logic trong Optatam Totius (Mọi người mong ước), Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục, khi đề nghị các chủng sinh “thăm viếng và giúp đỡ người bệnh, người nghèo, những người không Công giáo, những người Công giáo đã lìa bỏ đạo… những người trong tù, những người lao động” và dành mùa hè tại các vùng truyền giáo thiếu nhân sự để “mang lấy ‘gánh nặng của cả ngày và sức nóng.’” Văn kiện sau cùng đã làm nhẹ lại đề nghị này. Ngài và ĐHY Francis Joseph Spellman cũng cùng ủng hộ Apostolicam Actuositatem (Hoạt động tông đồ), Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân, được thông qua với 2.340 phiếu thuận và 2 phiếu chống.
Hai lần, Đức TGM Fulton Sheen cũng thúc đẩy một tuyên bố đầy đủ hơn về phụ nữ. Lần đầu là một nỗ lực không thành công nhằm dành riêng một chương cho vấn đề này, bởi vì “nguyên lý nữ tính trong tôn giáo đã bị xem nhẹ… chúng ta đang bắt đầu sống trong một thời đại mà phụ nữ đang khẳng định vị trí của mình”; lần thứ hai là trong quá trình soạn thảo Hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và hy vọng), khi ngài bảo vệ những phẩm chất mà ngài tin rằng chỉ phụ nữ mới đem lại cho nền văn minh: “Sự trong sạch, bảo vệ những người yếu thế, hy sinh, sinh con, duy trì và chăm sóc sự sống con người.” Về hiến chế cuối cùng này, trên hết Đức TGM Fulton Sheen ca ngợi “sự thật rằng phẩm giá và tự do của con người không thể tách rời khỏi ơn cứu độ,” đồng thời nhấn mạnh rằng Giáo hội phải tránh hai cạm bẫy để đạt tới điều đó: “Câu trả lời không thể được tìm thấy trong việc tách biệt khỏi thế giới… nhưng Giáo hội cũng không thể đáp lại cùng một thách thức mà thế giới đã ném vào Đấng là Đầu của Giáo hội trên thập giá: ‘Hãy xuống khỏi đó và chúng tôi sẽ tin.’”
“Sự hỗn loạn” hậu Công đồng và lịch sử Giáo hội
Đức TGM Fulton Sheen trở lại với sự quân bình ấy trong một số bài thuyết trình sau Công đồng, lập luận rằng sự hỗn loạn bắt nguồn từ sự nhầm lẫn về một từ duy nhất: “Tất cả sự hỗn loạn mà chúng ta đã có trong Giáo hội kể từ Công đồng Vaticanô II đều xoay quanh sự hiểu lầm của chúng ta về từ ‘thế gian,’” đồng thời phân biệt “thế giới“ như công trình tốt đẹp của Thiên Chúa với cái “thế gian” theo một nghĩa khác trong Kinh thánh - một cơ cấu không có Thiên Chúa. Ngài cảnh báo rằng nếu làm lu mờ sự phân biệt ấy, đời sống đạo đức sẽ bị đảo ngược: “Khoảng năm mươi năm trước, người ta thường nói: ‘Tôi thánh thiện hơn anh’; ngày nay họ nói: ‘Tôi thuộc về thế giới hơn anh.’”
Điều đó cũng phân chia dân Thiên Chúa thành hai thái cực: “Một thái cực của những người loạn thần (psychotic) tin rằng hai cộng hai bằng năm; một thái cực của những người thần kinh (neurotic) tin rằng hai cộng hai bằng bốn và phát điên vì điều đó,” ngài nói, để rồi “những người loạn thần sẽ khiến Giáo hội trở nên già nua; những người thần kinh sẽ khiến Giáo hội tự sát.”
Đức TGM Fulton Sheen đặt sự hỗn loạn hậu Công đồng vào trong một mô thức rộng lớn hơn của lịch sử Giáo hội. Trong tự thuật của mình, ngài viết: “Những căng thẳng xuất hiện sau Công đồng không gây ngạc nhiên cho những ai biết toàn bộ lịch sử Giáo hội. Đó là một sự kiện lịch sử rằng bất cứ khi nào có một sự tuôn đổ của Chúa Thánh Thần, như trong một Công đồng chung của Giáo hội, thì luôn có một sự phô trương sức mạnh đặc biệt của thế lực chống lại Thần Khí hoặc của ma quỷ. Ngay từ đầu, lập tức sau Lễ Ngũ Tuần và việc Thần Khí ngự xuống trên các Tông đồ, đã bắt đầu có cuộc bách hại và việc giết chết Stêphanô. Nếu một Công đồng chung không khơi lên tinh thần náo động, người ta gần như có thể nghi ngờ hoạt động của Ngôi Ba Thiên Chúa trên cộng đoàn.” Ngài trở lại với cùng một mối nguy ấy trong một bài tĩnh tâm có tựa đề “Quyền lực của ma quỷ trong thế giới ngày nay,” khi hướng đến những cám dỗ mà Satan đưa ra cho Đức Kitô trong sa mạc và xem cám dỗ cuối cùng - quyền thống trị thế gian để đổi lấy việc thờ phượng - như thử thách mà Giáo hội sắp phải đối diện; đồng thời diễn giải logic của chính tên cám dỗ: “Thần học là chính trị, hãy quên Thiên Chúa của anh đi, hãy quên tội lỗi, quên sự mặc cảm, quên sự thánh thiện đi, và hãy làm những điều thuộc về chính trị.”
Đối với Đức TGM Fulton Sheen, việc Công đồng Vaticanô II mở ra với thế giới không phải là sự phản bội cũng không phải là sự đầu hàng. Chính ngài từ lâu đã thực hành sự dấn thân ấy, dựa trên một phạm vi đặc biệt rộng lớn của những tham chiếu trí thức, tôn giáo và thế tục trong các bài giảng cũng như các tác phẩm của mình. Cách tiếp cận ấy gần với thần học cổ xưa về semina Verbi, những hạt giống của Lời được gieo rải trong mọi nền văn hóa và mọi hoàn cảnh: đó là khả năng phân định để nhận ra hạt giống tốt giữa cỏ lùng trong bất kỳ môi trường nào, đồng thời giúp hạt giống tốt ấy bén rễ.
Tác giả: Marie-Lucile Kubacki - Agenzia Fides (15/9/2026)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
Nguồn: giaophanvinhlong.net