Hiếu là độ được đấng thân
Từ mái ấm gia đình ra đi, những người con cái Việt mang theo bài học :
Công cha như núi thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra;
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Đó là tâm tình gần như được thiên phú của người dân Việt Nam:
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài
| |
Định cư trong một khu vực địa lý gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, quần tụ trong từng gia đình - xóm làng nho nhỏ với công việc đồng áng là chủ yếu: tương quan xã hội của cộng đồng cư dân nông nghiệp này trước tiên là làng xóm, còn tương quan gia đình thì cha mẹ là trên hết. Từ tình cảm gia đình gắn bó này phát sinh ra lễ nghĩa, trong đó HIẾU lễ được coi trọng hơn hết. Qua quá trình giao lưu với các dòng văn hoá khác nhau, nội dung và nghi thức lễ nghĩa này đã có một sự tiếp biến nhất định. Ở đây chỉ đề cập khái quát thái độ sống hiếu thảo của người Việt qua tư tưởng bình dân, bỏ qua các yếu tố ngoại lai.
Cây có cội nước có nguồn,
Con người có tổ có tông.
Đó là điều hiển nhiên trong nhân loại! Riêng với người Việt Nam, quan niệm sống ấy được nâng lên thành một đạo: HIẾU đạo. Vì như vừa đề cậpphía trên, do vai trò to lớn của gia đình, mà cha mẹ là người đứng đầu, nên thái độ hiếu kính trước tiên được dâng lên cho các bậc có công sinh thành dưỡng dục ấy. Gia đình như một đền thiêng để cử hành đạo hiếu. Cha Leopold Cadière đã nhìn thấy ở gia đình Việt Nam có một mối dây ràng buộc hết sức chặt chẽ các thành phần với nhau. Đó là một trong những thể chế được thiết lập mạnh mẽ nhất trong văn hoá người Việt. Vì thế, tôn giáo, dù thể hiện dưới hình thức nào, đều đương nhiên gắn bó thâm sâu với đời sống gia đình… Gia đình theo nghĩa rộng, trong ngôn ngữ thông thường, được gọi là họ… Theo cách hiểu này, gia đình không chỉ gồm những người sống mà cả kẻ chết. Do chính việc hình thành của thiết chế gia đình này, họ tức gia đình theo nghĩa rộng, chủ yếu có tính chất tôn giáo, bởi lẽ nó bao gồm các thành phần siêu nhiên. Sự trường tồn của tổ tiên, sự hiện diện của các ngài ở giữa gia đình, không phải là một sáo ngữ, một lối nói, một cách bóng gió thi vị, mà là một thực tại sâu xa, ai ai cũng thừa nhận [1].
Từ mái ấm gia đình ra đi, những người con cái Việt mang theo bài học
Công cha như núi thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra;
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Không chỉ quan niệm, họ thể hiện bằng chính cuộc đời mình: Kẻ làm con thì phải “nết đủ trăm đường, trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay”; họ phải:
Thờ cha kính mẹ hết lòng,
Ấy là chữ hiếu dạy con luân thường.
Khi cha mẹ còn sống thì họ đêm ngày cầu nguyện:
Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Các ngài mất đi, họ lo cho mồ yên mả đẹp, vì rằng người ta “sống về mồ mả, không ai sống về cả bát cơm”…
Thái độ hiếu thảo ấy, tất cả thấy được tập trung ở lễ nghi thờ cúng tổ tiên. Đó là đạo lý uống nước nhớ nguồn, biết ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gầy dựng nên cuộc sống cho cháu con. Thờ cúng tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của các thế hệ sau với những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ đã qua đời.
Có thể nói, tục thờ cúng tổ tiên của người Việt đã có từ rất lâu đời, thậm chí từ thời cổ đại[2]. Cơ sở của nó là niềm tin về sự bất tử của linh hồn sau khi con người không còn hiện diện hữu hình ở trần gian này. Người dân Việt biết rằng “thác là thể phách, còn là tinh anh”, nên tin là ông bà cha mẹ vẫn còn đi đi về về để phù hộ ban phúc cho cháu con. Đó là nội dung của lễ đón ông bà về - tiễn ông bà đi vào những dịp tết. Lễ vật cúng kiếng không cứ phải mâm cao cỗ đầy, mà chỉ cần một nén nhang lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, ngày Tết, hay ngày giỗ tổ tiên. Điều hệ trọng là ở tấm lòng. Qua tâm tình ấy, con cháu trong gia đình đã tỏ lòng thành kính, hướng về nguồn cội, tưởng nhớ những người thân đã khuất… Cứ thế, từ đời này sang đời khác, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước giữ hương hoả và tôn thống, cúng kiếng ông bà tổ tiên. Lễ nghi dần dần trở thành một phong tục, một chuẩn mực đạo đức, một nguyên tắc làm người. Còn hơn thế, nó làm thành một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, đặc biệt rõ nét trong sinh hoạt tín ngưỡng tại các làng quê.
Người dân Việt thực hành lễ nghi Hiếu đạo bởi tin rằng:
Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn,
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu,
Người ta nguồn gốc ở đâu,
Có cha có mẹ rồi sau có mình.
Họ chăm lo cúng kiếng, mong đáp đền ơn nghĩa:
Ân cha nghĩa mẹ nặng triều,
Ra công báo đáp ít nhiều phận con
Họ biết rằng cuộc đời mình là do ân phúc của tiền nhân:
Khôn ngoan nhờ đức cha ông,
Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ,
Đạo làm con chớ hững hờ,
Phải đem hiếu kính mà thờ tổ tiên.
Không chỉ thế, việc thờ kính tổ tiên còn mang ý nghĩa giáo dục cho thế hệ tương lai:
Nếu mình hiếu với mẹ cha,
Thì con cũng hiếu với ta khác gì,
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con hiếu làm gì hoài công.
Vì thế mà phép tu quan trọng là tu đạo nhà:
Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.
Gia đình - gia tộc là nơi đạo hiếu ra đời, và đó cũng là nơi hành vi thờ phụng này được thể hiện. Vì vậy, mảnh đất chôn nhau cắt rốn chính là nơi đong đầy lễ nghĩa nhất:
Mình về ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ,
Bài thơ ba chữ rành rành,
Chữ Trung chữ Hiếu chữ Tình là ba,
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ đôi ta chữ Tình
Theo dòng thời gian, cách thức thờ cúng có phần biến đổi, nhưng nội dung và tâm thức thờ phụng tổ tiên của người Việt Nam vẫn chẳng đổi thay. Họ coi việc thờ phụng tổ tiên là một nguyên tắc quan trọng trong đạo làm người. Đó là hình thức thể hiện lòng hiếu thuận và thái độ biết ơn của hậu sinh đối với các bậc sinh thành.
Lm. Stêphanô Nguyễn Xuân Dinh, Dòng Phanxicô
Nhịp Cầu Tâm Giao 3, NXB Phương Đông (12.2010), tr. 25-29.
[1] Leopold Cadière, Văn hoá, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt - Tập I, NXB Thuận Hoá, 2010, tr. 55-57. Bản dịch của Đỗ Trinh Huệ.
[2] X. Trần Phổ, OFM, Tín ngưỡng Việt Nam, Tủ Sách Phan Sinh, 2006 , tr. 130.
