Chữ Tu

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 770 | Cật nhập lần cuối: 3/7/2016 3:21:11 PM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

HỌC TẬP THÁNH GIÁO VỀ CHỮ TU

THI
Đạo ở trong người chẳng phải xa,
Đừng đi tìm kiếm khắp ta bà,
Tâm linh lúc ẩn khi bày hiện,
Mặc mặc tham thiền sẽ lộ ra.
VẠN HẠNH THIỀN SƯ, Bần Tăng chào mừng chư Thiên ân hướng đạo, chư đạo hữu đạo tràng.
(…………)

Chữ tu xưa nay ai cũng biết và cũng hằng định nghĩa khá nhiều trên kinh điển, báo chí và khảo luận, nhưng có mấy ai đặt vài câu hỏi. Thí dụ:

1. Tu cho ai?
2. Tu để làm gì?
3. Nếu không tu thì có sao không?

1. TU CHO AI?

Câu hỏi thứ nhứt rất là phức tạp, vì trình độ cao thấp của người áp dụng chữ tu.

1. TU HỒI HƯỚNG TRẢ LỄ
Có người áp dụng chữ tu bằng cách trả nợ Trời Đất Tiên Phật sau một tai nạn hoặc ông bà cha mẹ trải qua một cơn bịnh nặng thập tử nhất sinh, con cháu vái van cho qua khỏi cơn tử biệt để thí phát qui y, tu hồi hướng trả lễ.

HỌC TẬP:
Trường hợp này thường xảy ra. Người con có tâm hiếu đạo này, về nhơn đạo phải khen (trên đời dám xuống tóc đi tu, không phải có nhiều người). Nếu như nhờ trả lễ rồi sau đó giác ngộ lo tu học tiếp tục thì quí lắm (chứ đừng xuất gia giao duyên).
Khi cầu xin, van vái là bắt đầu chuyển tâm, chuyển tâm là chuyển nghiệp;
Thay vì tu hồi hướng trả lễ, mang tính đặt điều kiện với Các Đấng Thiêng Liêng, con cháu nên tình nguyện ăn chay, tình nguyện xuống tóc đi tu rồi xin Ơn Trên ban ân.

2. TU LÀ DỐC BỎ THẾ TRẦN
Có người quan niệm về chữ tu là dốc bỏ thế trần để được thành Thần Thánh Tiên Phật, bên kia thế giới được an nhàn tự tại hơn cõi trần gian đầy đau khổ.

HỌC TẬP:
Đây là các vị từ 40 tuổi trở lên, các vị bị mang trọng bệnh, giác ngộ được đời là trường học, kiếp người là khổ, nên mong tu để giải khổ, trong hiện kiếp cũng như ở cõi hằng sống. (xin xem Niệm Phật lưu xá lợi).
Đức Thích Ca ngày xưa sau khi xem 4 cửa thành, thấy cảnh lão, bệnh, tử của kiếp người, Ngài giác ngộ đi tu.

3. TU VÌ TRUYỀN THỐNG
Có người tu vì truyền thống từ nhiều đời ông bà cha mẹ để lại, con cháu cứ bắt chước noi theo đó để làm theo cho khỏi lỗi đạo với tiền nhân.

HỌC TẬP:
Ơn Trên dạy:

1. Trách nhiệm của phụ huynh đối với con cháu trong gia đình:
Ơn Trên dạy: “Nếu chưa hướng dẫn con cháu học tu là độc thiện kỳ thân”, quên chúng sanh trong nhà. Con cháu cần tự tu, tự cứu vì không ai nghĩ rằng đủ phước đức để che chở cho tập thể. Tự cứu mình chỉ đọc 1.000 biến kinh cứu khổ, muốn cứu gia đình phải gấp 10 lần (10.000 biến kinh cứu khổ).

Ngay khi thành đạo trở về, một trong các việc làm đầu tiên của Đức Thích Ca là xuống tóc cho người con trai độc nhất là La Hầu La đi tu. Đức Khổng Tử dạy “Đừng trách đám cỏ chèn ép cây lúa mà hãy trách người nông phu chểnh mảng”. Ơn Trên dạy:
Cần lo việc nhập môn tổng hợp,
Cho con em các lớp nhân viên,
Cha tu con phải được hiền,
Lập thành sổ bộ trò Tiên đó là. (1)

2. Trách nhiệm của tổ chức, tập thể Đạo, Thánh Thất, Thánh Tịnh, Hội Thánh:
Uốn tre uốn thuở măng non,
Dựng gầy hướng đạo khi còn tuổi thơ.

Ơn Trên dạy:
Thanh thiếu niên ngày ngày ghi nhớ,
Học tu nhiều dầu dở cũng hay,
Tre tàn cằn cỗi ngày mai,
Lập đời hoằng giáo nhờ tay các trò.

Các anh chị trưởng phải nhận trách nhiệm dìu dắt các em bằng nhiều hình thức sinh hoạt: giáo lý, nhạc đạo, dạy nghề… để giữ và chăm sóc các em.

Phần lớn chúng ta tu theo truyền thống này, nhưng trên 18 tuổi phải nhập môn thì mới được Hội Thánh, cũng như Ơn Trên nhìn nhận là môn đệ đức Chí Tôn và phù hộ cho chúng ta. Cũng như muốn đi suốt đạo trình thì phải củng cố đức tin và giải đáp được câu hỏi “nếu ba má tôi không phải đạo Cao Đài thì vì sao tôi theo đạo Cao Đài?” Để hiểu:

- các hồng ân mà Đức Chí Tôn ban ân cho dân tộc Việt Nam nói chung và người môn đệ Cao Đài nói riêng; “Lòng con tin Đấng Cao Đài, đạo đời Trời sẽ an bài cho con”.
- theo đạo Cao Đài là dễ hiểu, dễ tu nhất do Kinh sách bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt là chánh tự).
- “Thời gian có sau trước, pháp môn có tân cựu” và tu theo pháp môn Cao Đài là ngắn nhất, hiệu quả nhất. “Công trình, công quả, công phu; Ba công hội đủ đường tu vững vàng”.

4. TU CẦU CHO CỬU HUYỀN THẤT TỔ VÀ CẦU CHO CON CHÁU
Có người tu cầu cho cửu huyền thất tổ tận độ siêu thăng và cầu cho con cháu tại tiền được hưởng cảnh phú quí vinh hoa.

HỌC TẬP:
Kinh Tu Chơn Thiệp Quyết dạy:
Tu là cứu Cửu Huyền Thất Tổ,
Tu là cần phổ độ chúng sanh.

Phải phổ độ chúng sanh thì mới cứu được Cửu Huyền Thất Tổ chứ không thể cầu xin được. Đạo tỷ Ngọc Kiều đã được Đức An Hòa Thánh Nương dạy:

Đây mẹ tin Ngọc Kiều con rõ,
Nhờ đường tu sáng tỏ quả công,
Thiêng Liêng chứng giám tấc lòng,
Thị Hồ hiền tỷ thoát vòng trầm luân.
Rằm tháng bảy Trung Nguơn Phóng xá,
Các linh hồn mãn đọa luân hồi,
Tiên Cô Diệu Hạnh đến nơi,
Phép linh dìu dắt cõi trời luyện tu. (2)

Các Đấng Ơn Trên vốn vô tư “không vì cúng mà ban phước, không vì không cúng mà cho họa”.
Đó là tu theo phần mê tín,
Phật Tiên đâu ưa nịnh, ưa dua,
Mà đem lễ vật đến chùa,
Đặt điều kiện để bán mua Phật Trời. (3)

Đối với con cháu, cha mẹ phải:
- Con cháu còn hiện tiền, cha mẹ phải dạy, phải tập cho làm công đức để hưởng kết quả “một ngày làm 3 điều lành, 3 năm trời nhỏ phước lành”.
- Con cháu đã mất cha mẹ làm âm chất, nhập môn vô vi, cầu siêu cho.

5. TU CHO TRỜI, PHẬT, CHÚA, …
Có người tu cho Trời, cho Phật, cho Chúa, cho Thánh, cho Thần.
HỌC TẬP:
Các Đấng đã hoàn toàn giải thoát, đã đắc rồi đâu phải nhờ chúng ta tu dùm nữa, chúng ta đang ở trong lò lửa, tự cứu chưa xong phải nhờ các Ngài phù hộ; tình lý đều không thông, bệnh nhân lại đi chữa bệnh cho bác sĩ, lương y. Đức Quan Âm Bồ Tát dạy:
Không phải Phật thiếu kinh thường dụng,
Bảo chúng sanh đem tụng Phật nghe. (4)

6. TU CHO SƯ PHỤ HOẶC CHO NGƯỜI HƯỚNG DẪN TINH THẦN
Có người tu cho vị sư phụ hoặc người hướng dẫn lãnh đạo tinh thần.
HỌC TẬP:
Đây là trường hợp đặc biệt không phải là không có, học trò đi sau về trước, quay lại cứu nguy cho thầy cũ hoặc đàn anh cũ.

7. TU VÌ QUYỀN LỢI QUY ĐỊNH TRONG LUẬT LỆ GIÁO ĐIỀU MỘT TÔN GIÁO
Có người tu vì quyền lợi đã minh định sẵn trong khuôn khổ luật lệ giáo điều của tôn giáo đó, nếu không tu, không làm theo sẽ không được hưởng những ân huệ quyền lợi qui định trong tôn giáo đó.

HỌC TẬP:
Trường hợp này chẳng khác nào đi làm cho công ty, xí nghiệp hay công chức: vì tiền, vì danh, vì lợi. Nhiều vị đã dùng từ dịch vụ để chỉ việc làm của một số vị đi tu, chính là hoàn cảnh này. (dịch vụ hay sứ vụ).
Trong một số tôn giáo, vị chức sắc được lãnh lương bổng hằng tháng, tiền nhà, cửa, điện nước…

8. TU VÌ ĐAU KHỔ THẤT VỌNG
Có người tu vì đau khổ thất vọng chán nản sự giả trá bội bạc của cha mẹ, hoặc của tình nhân, hoặc của xã hội, nên trốn lánh vào am tự để khuất mắt lấp tai.

HỌC TẬP:
Đây là trường hợp bị phá sản, bị thất tình, bị thi rớt… tâm lý bị khủng hoảng, tìm đến của chùa, thất để an định tâm hồn. Xưa Ngài Thị Kính cũng bị trong cảnh gia đình nghi oan, Ngài tìm con đường tu học, vừa lo tròn hiếu đạo, vừa cứu độ tự thân. Từ tiếng đại hồng chung “Văn chung thinh, phiền não khinh, trí huệ trưởng, bồ đề sinh, ly địa ngục, xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh.”

9. TU VÌ BẢN TÂM THÍCH VIỆC THIỆN
Có người tu vì bản tâm thích việc thiện, việc đạo lý mà tu.

HỌC TẬP:
Đây là những vị có căn cơ sâu dày, vong kỷ vị tha, có tâm hướng thiện, hướng nội, không màng quyến rũ của thế gian.
Cho hay cuộc thế hữu tình,
Men đời chưa thấm mà mình đã say.
(…)
Ngoài phương tiện lợi danh đầy đủ,
Trong gia đình hào phú kiêu sa,
Với đời, mở mặt người ta,
Với mình, xét lại đó là trái oan.
Buộc Chơn Tiên vào hàng tục tử,
Nặng nghĩa ân khó giữ lời nguyền… (5)
Như sơ Loan trên trại cùi Bến Sắn, cha là một công chức cao cấp trong tòa án, chị cũng đã tốt nghiệp đại học, nhiều người khác phái để ý, Sơ vẫn vững tâm đi tu.

10. TU LẸ MỘT KIẾP CHO KHỎI TRỞ LẠI CÕI HỒNG TRẦN NÀY
Có người tu vì sợ bị luân hồi chuyển kiếp, sợ e kiếp sau không được làm người hoặc nếu có được làm người, sợ e không sanh trưởng vào gia đình có đạo đức, nên cố gắng tu bươn, tu lẹ một kiếp cho khỏi trở lại cõi hồng trần này.

HỌC TẬP:

Đây chính là tâm nguyện của chúng ta, phải nhứt tâm tu học hành đạo bất thối chuyển trong kiếp này, bởi vì 700.000 năm nữa mới mở đạo. Trường hợp bà năm Nước Tương (Thanh Cúc Hoa ở thánh tịnh Ngọc Điện Huỳnh Hà), Đức Bảo Pháp Chơn Quân Huỳnh Chơn kiếp này cũng được bạn xuống cứu, Ngài bác sĩ Trần Văn Quốc là Chơn Tiên xuống phàm, nay trở lại với đạo quả Chơn Thường Đạo Sĩ.

Nếu kể thêm nữa thì không biết chừng nào cho hết những quan niệm về chữ tu của người đời.

Chỉ xuyên qua những lớp người điển hình ngần ấy, chư đạo hữu thấy được những gì? Bần Tăng và chư đạo hữu không vội phê phán những quan niệm về chữ tu như vậy là đúng hay sai. Bây giờ đây Bần Tăng mời chư đạo hữu hãy xem lại một câu ở phần trùng tụng vừa mới viết. Đó là câu lục của vé chót. Bần Tăng nhờ hiền muội Ngọc Kiều giùm bình một câu ấy:

- “Nội tâm thấu triệt huyền vi…”
Bần Tăng cảm ơn hiền muội.
“Nội tâm thấu triệt huyền vi”, chỉ có 6 chữ ấy thôi cũng nói lên được những gì trong chữ đạo.
Có luận phần nào chữ đạo sẽ giải đáp được tu cho ai.

A. TU CHO CHÍNH MÌNH
Không phải tu cho tha nhân, mà chính mình tu cho mình, tu cho được từ tâm phàm mê muội trở nên sáng suốt minh đức mẫn tuệ.

HỌC TẬP:
Đức Thiên La Đạo Nhơn dạy:
Càng lo tu trước giúp ích cho mình,
Cho nạn tai sớm được giảm khinh,
Cho nghiệp lực nhơn sanh tiêu tán.
Đầu năm mới có mấy dòng khuyên giảng,
Dạy các em cố ráng tu hành.
Đức Chí Tôn dạy: “Không phải các con tu cho Thầy hay một Đấng Thiêng Liêng nào, mà các con tu là lập vị cho chính các con đó.”

B. TU ĐỂ CHUYỂN NGHIỆP
Tu để từ chỗ gây tạo nghiệp quả xấu xa tội ác để được trở nên người hiền lương quân tử Thánh thiện.

HỌC TẬP:
TU LÀ CHUYỂN NGHIỆP.
Đức Trần Hưng Đạo dạy:
Mặc nhơn thế lăng xăng hay dở,
Lo tu hành tháo gỡ nghiệp trần,
Hoạn đồ tranh cạnh, dừng chân,
Khi thành chánh quả, đem thân cứu đời.

Đây là thực hiện mục đích thứ nhất của đạo Cao Đài “xây dựng thế đạo đại đồng: quốc thái dân an, thiên hạ thái bình” như chúng ta thường đọc sớ.

Cuộc đời của ông Thủ Huồn từ bất thiện nghiệp chuyển lên thiện nghiệp, tái sinh làm vua Đạo Quang nhà Thanh. Chúng ta phải tiến lên phi nghiệp, Đức Mẹ dạy:
Nghiệp lành dữ rốt rồi là nghiệp,
Sắt hay vàng đều xích xiềng thân,
Sao bằng tâm chí lâng lâng,
Nhổ mầm tình thức, đoạn nhân tục phàm. (6)

C. TU ĐỂ HOÀN THIỆN BẢN THÂN
Tu để bản thân mình hoàn thiện tiến hóa từ thường nhân đến thánh nhân.
HỌC TẬP:
Đời là một trường tiến hóa, Đức Chí Tôn đã kết hợp lại thành chương trình tu học gồm 5 lớp: Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo, cho dễ học, dễ hành, dễ thành.
Đức Thiên La Đạo Nhơn dạy:
Thánh thất dùng để làm nơi truyền giáo,
Tháng đôi lần giảng đạo thuyết kinh,
Dạy tu hành cho cả nhơn sanh,
Đừng tưởng quấy rồi tâm thành băng hoại.

D. TU ĐỂ SIÊU THOÁT
Tu để biết mình rồi biết Trời, biết sự liên hệ giữa tiểu nhân thân và đại vũ trụ, biết đường siêu thoát trở lại bổn nguyên.

HỌC TẬP:
Đây là thực hiện mục đích thứ hai của đạo Cao Đài là “Thiên đạo giải thoát”.

Người là thượng sanh trong sinh giới, là thiên hạ tối linh, nếu làm đúng được con người chính danh, thì đứng vào thế tam tài đồng đẳng.

Về mặt Thiên đạo, Đức Khổng Tử dạy “vi nhân nan đắc, thiên hạ tối linh”, muốn kiến được Thiên địa chi tâm, cảm được thiên địa chi tình, hành giả phải “tồn tâm dưỡng tánh” bằng cách thực hành “tứ vật” đó là:“Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” để đi trọn lục độ [chỉ, định, tịnh, an, lự, đắc] thì mới hiệp nhất được cùng Đấng Đại Thông (Đức Chí Tôn).

Theo Tân luật thì sau khi xử tròn nhân đạo, người môn đệ Đức Chí Tôn được nhập tịnh thất để Tu tánh luyện mạng, hoàn nhị xác thân để “cùng Trời đồng nhất, cùng Đạo ứng thông” để thoát khỏi vòng lục đạo, luân hồi sinh tử.
Đức Trần Hưng Đạo dạy: “Nếu con người không tu niệm để đồng nhứt với Trời, vào cõi Hư Vô, thì phải chịu phần dịch hóa, cũng như Phật, Lão gọi là: “luân hồi sanh tử”, khó thoát ra ngoài vòng xiềng xích đó được.
Tuy biết là biết như vậy, nhưng đừng bao giờ ước vọng sẽ đạt thành đến ngôi vị nào và sẽ được những gì.
Đó là câu thứ nhứt. Bần Tăng cũng nhờ hiền muội giùm đọc câu hỏi thứ hai.
- “Tu để làm gì?”

2. TU ĐỂ LÀM GÌ?
Bần Tăng cảm ơn hiền muội.
Biết rằng:
“Tu là học để làm Trời,
Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian.”
Nhưng đừng mong vọng rồi sẽ được làm Trời.

A. TU ĐỂ TIẾN: HIỀN, THẦN, THÁNH, TIÊN, PHẬT …

HỌC TẬP:
Đức Đông Phương Lão Tổ dạy:

* Nên HIỀN NHÂN:
“Nhiều tay ham học, hỏi học làm gì?
Nói học làm Trời, mà làm người chưa đúng.
Nhiều kẻ ham tu, hỏi tu làm gì?
Nói tu làm Phật Tiên, mà tánh đảo điên không bỏ.”

Vì thế Ngài dạy thêm:
“Học tu để nên người thánh thiện,
Tu hành cần rèn luyện thân tâm,
Có tâm, tâm chớ lạc lầm,
Có thân, thân chớ đọa trầm phàm phu.”
Tiêu chuẩn nên Hiền nhân là phải trọn Cương – Thường (Nam: tam cang, ngũ thường; nữ: tam tùng, tứ đức).

* Nên THẦN:
Tiêu chuẩn nên Thần là TRUNG – NGHĨA.
Đức Lê Văn Duyệt Đại Tiên dạy:
Một kiếp vi nhơn để lại gì?
Sau khi buông gánh bước ra đi,
Tình dân vạn thuở lòng ai mộ,
Nghĩa nước muôn đời sử chép ghi.
Đời có nên thân trang chí sĩ,
Đạo tròn kẻ dũng trí và bi,
Nợ dâu tằm bé còn lo trả,
Hỡi khách tài danh tạc được chi? (7)

* Nên THÁNH:
Tiêu chuẩn nên Thánh là CÔNG BÌNH.

* Nên TIÊN:
Tiêu chuẩn nên TIÊN là BÁC ÁI.
Đức Lê Văn Duyệt Đại Tiên dạy:
Mấy kẻ muốn lên đàng tự cứu,
Dòng thời gian tam bửu kết thành,
Gởi cho người biết tu hành,
Bạn gìn giữ lấy để dành hộ thân. (8)

* Nên PHẬT:
Tiêu chuẩn nên PHẬT là TỪ BI.
Chư Tiền Khai Đại Đạo dạy “dù muốn dù không gì thì việc gì đến nó cũng sẽ đến. Một xã hội thượng nguơn sẽ được xây dựng trên nền tảng của Đại Đạo: công bình, chính trực, bác ái, từ bi, đại đồng.”

Cố gắng học hiểu và hành những nguyên tắc và điều kiện nào để tiến hóa từ nhơn sanh đến hàng Thần Thánh Tiên Phật Trời, rồi nhựt nhựt thường hành, tâm tâm thường niệm theo qui củ đường lối ấy.

HỌC TẬP:
Đức Quan Âm Bồ Tát dạy:
“Chư hiền muốn thành Phật ư? Muốn thành Tiên, Thánh, Thần ư? Được, tốt lắm.
Chính trong thâm tâm chư hiền, mỗi người đều có, tạm gọi là vốn liếng để thành Phật, Tiên, Thánh, Thần. Miễn chư hiền biết trọn lòng, tư tưởng đến việc làm cùng lời nói. Loại nào của các bực Phật, Tiên, Thánh, Thần, nên nuôi dưỡng mà tiến hành. Còn những tư tưởng, hành động, lời nói nào của ma quỉ, phải chừa ngăn. Có như vậy, mới sớm toại nguyện.
Thử đặt câu hỏi: Nếu mình làm đúng, nói đúng, trong lúc đó có người nói ngược lại, mình có bực tức, giận chăng? Nếu có, tức là không được Phật Tánh.

Nếu khi gặp cơn đói lạnh, mình chỉ còn một chén cơm cho cả gia đình, trong lúc đó gặp người hàng xóm xin chia bớt một phần, mình có chia chăng? Nếu không, tức là thiếu lòng bác ái, chẳng được thành Tiên.

Nếu khi cơn ghiền rượu đang hoành hành, ở nhà còn sót một vò rượu ngon, hỏi mình có tự nhẫn kiên, không dùng rượu, để sáng suốt tinh thần, tiếp điển hành pháp chăng? Nếu không nhẫn được là không thành Thánh.

Nếu cần một món tiền chia hai, bên ba phần, bên năm phần, cho thân nhơn với một người láng giềng, có ưng lòng chia phần nhiều cho người hàng xóm chăng? Nếu không thì chẳng được thành Thần.

Những sự kiện nghe qua rất tầm thường, nhưng xét lại thật là khó hành. Mà hễ khó hành thì không thành. Muốn thành, phải kiên nhẫn, hy sinh, đức độ. Nếu ngược lại, bắt cá hai tay, làm sao đắc quả, vì câu:
Thiên Đàng thì cũng muốn lên,
Tiếc vì sự nghiệp một bên còn nhiều.” (9)

H&a