Đạo làm người

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 671 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email
Ý thức luân lý
     
Con vật chỉ phản ứng theo bản năng, nghĩa là cái bản năng “trời ơi” ấy làm thay cho nó hết. Duy chỉ con người mới hành động thật, nghĩa là làm tự mình, do lý trí soi lối và ý chí quyết định. Nên khởi động ở việc cân nhắc và quyết định này, chứ không phải ở hoạt động cơ bắp và thần kinh. Chính vì thế, đắn đo và quyết muốn đã được gọi là hành vi (act) rồi, để khi tòa án luận tội thì phải dựa vào đó mà xét. Vâng, dù anh quyết giết người mà chưa giết được, thì anh đã phạm tội trước lương tâm anh, còn tòa án thì kết tội anh cố ý mưu sát.

Sở dĩ con người có trách nhiệm, không về tác động bên ngoài cho bằng về hành vi nội tâm (cũng là nội tại, immanent), chỉ vì nội tâm mới là giang san riêng của tôi, chỉ ở nội tâm tôi mới thực là chủ, là tổng tư lệnh. Ở nội tâm đó, tôi vừa là nhà lập pháp, vừa là quan tòa và kẻ thi hành án luôn. Và đây là lương tri, hay tiếng nói lương tâm.


Do đâu mà có cái lương tâm lạ lùng ấy? Freud giải thích nó bằng then máy của Siêu ngã. Đây là uy quyền người cha cùng với những cấm đoán bị “đồng hóa” (identification) hay hội nhập vào đứa bé, thành một thứ Tôi trên tôi nó kiềm chế và kiểm soát tôi. Có điều Freud không cho biết vì sao có cái hương vị luân lí đi kèm, khiến “quyết lệnh luân lí” (impératifs moraux) phân biệt với những loại cấm cản, ức chế (inhibition) khác. Lại nữa, cưỡng bách luân lí luôn giả thiết tự do, đến nỗi khi không còn tự do, dù cho hoàn cảnh bên ngoài, dù cho bệnh tâm thần bên trong, thì cưỡng bách luân lí cũng tiêu tan.


Chúng tôi không nghĩ như Nho giáo và các triết gia Cổ Trung Hoa, rằng con người khi sinh ra, nhất là người nguyên thủy, đã có ngay những đức như nhân nghĩa trong mình. Mà thực ra, họ chỉ có một thứ nhạy cảm luân lí hay cảm thức thiện ác, để rồi từ thứ nhạy cảm này, với sự trợ giúp của lý trí và kinh nghiệm, sẽ khám ra dần dần cái gì là hợp với tính người, tức thiện, và cái gì nghịch lại, tức ác. Chứ hồi đầu, loài người chỉ có một cảm nhận chung chung, nó là một thứ nguyên tắc tối ư tổng quát: Điều thiện thì nên làm, điều ác thì phải lánh!


Chứ còn cái gì là lành hay ác thì lại khác, khiến cho về lâu về dài và từ vùng trời này đến vùng trời kia, có thể có những quy tắc luân lý cụ thể trái ngược nhau, ít là ở bề nổi và về mặt thực hành.


Đạo làm người


Nếu Tây Trúc chỉ trọng có tôn giáo, và coi luân lí chỉ có ích trong giai đoạn vô minh, luân hồi thôi; và nếu Tây phương tuy đề cao luân lý đấy, nhưng coi nó là vấn đề riêng của loài người; thì Á Đông chẳng những để luân lý bao trùm luôn tôn giáo, - hay nói cho đúng hơn, đặt bổn phận đối với Trời và thần thánh, tức tôn giáo, lồng cả trong Đạo làm người, tức luân lí – mà còn đặt luân lí vào trong cái Đạo tối thượng nó bao trùm cả Thiên Địa Nhân. Vâng, luân lí chỉ là một trong những hiển thể của Đạo, và gốc của nó nằm ở Mệnh Trời.


Theo Lão Tử, Đạo ở gốc của nó thì không được gọi tên, không được định dạng, không hiển ra bằng đức và quy luật rõ ràng. Và đây mới là Thường đạo. Ngay Trời được coi là gốc của tất cả, thì nơi Trời, Đạo cũng có hai mặt Vô danh và Hữu danh như thế:


“Vô danh vạn vật chi thủy,

Hữu danh vạn vật chi mẫu.”


Còn con người, nếu sống đạo sâu xa, đến như thành một với đạo: “đồng ư đạo” 
[1], thì người ta cũng không cần nghĩ đến Đức, huống nữa đức này hay đức kia [2]:


“Mất đạo rồi mới có đức,

Mất đức rồi mới có nhân…”[3]


Có thuyết cho rằng Nhân đạo là do Trời định, có thuyếtlại cho rằng do tự nhiên thôi, không cần Trời phải muốn thế mới thành như thế.


Theo tôi nghĩ, nên dung hòa giữa hai ý kiến, bằng cách vượt trên cả luật tự nhiên lẫn thiên ý. Như thế cũng phù hợp với cách hiểu của khoa học hôm nay về đạo của đất, tức quy luật của tự nhiên.


Vâng, theo ý tôi, Trời chỉ cần đặt giữa hư không một Thiên mệnh hay ý hướng, để giữa hư không ấy nổ lớn một Bigbang, rồi từ cái bắt đầu nó như có như không, giữa năng lượng và hạt này, mà vật chất sinh ra, vật chất ấy tự tìm lối cho mình hướng về cái mới chỉ là ý Trời hằn in trên nó. Tìm đường, nó phải dò dẫm, mày mò, để rồi mỗi khi tiến được một bước, nó liền để
vết cho tất cả sau đó lặp lại (répétition): vết ấy chính là quy luật, chứ quy luật không có sẵn trước đâu. Nên quy luật đúng là tự nhiên, mà cũng đúng là ý Trời. Nếu hướng nhắm của Trời là sự sống, và giữa sự sống là con người, thì nơi con người ấy cũng có một Thiên mệnh chiếu in thành Tính, để với cái Tính lí tưởng và cái Đạo “thường đạo” chung chung này, con người cũng sẽ dò dẫm tìm đường, tự khai phá lấy cho mình một hệ thống cái đức và quy luật luân lí chúng hướng dẫn hắn trên đường thành thánh, thành nhân.


Hướng nhắm là Đạo, nhưng vững Đạo là ở Đức


Tính là cái đích phải vươn tới, Đạo là đường đi nói chung, nhưng thể hiện Đạo ra trong cuộc sống lại là Đức, và cụ thể hơn, là cái đức như nhân, nghĩa, v.v. Cho nên để đạt đạo trong điều kiện hiện sinh của loài người, không thể không trui rèn các đức tính, chúng hiển lộ Đạo và làm cho Đạo vững lên:
Chí vu Đạo, cứ vu Đức.


Nếu Lão Tử chỉ nói về Đạo, thì thực tế hơn, Khổng Tử chỉ bàn về cái đức. Về đức, Khổng Khâu kể ra, nào là
Cung khoan tín mẫn huệ, nào là Nhân nghĩa lễ trí tín, nào là Kiệm khiêm tiết trực Trung thứ hiếu đễ. Nhưng đức mà Khổng Tử năng nhắc đến và nhấn vào nhiều là Nhân trí dũng, Thành Trung dung. Có thể nói đây là những đức trụ (cột) của tòa nhà đạo đức Khổng giáo.


Luân lý Hy-La cũng có những đức trụ (vertus cardinales) mà Cicero ghi rõ trong tác phẩm
De ifficiis (Về các bổn phận) của ông, và đây là: Tiết độ, khôn ngoan, công bình và can đảm. Trong bốn đức ấy, có đến ba thuộc cương, còn khôn ngoan thuộc phán đoán hơn nên không kể. Trái lại, trong năm đức trụ Nho giáo, rõ ràng thuộc cương chỉ có Dũng và Thành, và chúng được lòng Nhân nhuần thấm khiến cho ôn dịu lại. Hơn thế, trong tâm ý của đức Khổng, ngũ đức nói trên mang một ý nghĩa rất sâu xa.


Cao sâu nhất có lẽ là Thành và Trung dung, mà Đức Khổng dành cho cả một cuốn sách: sách
Trung Dung.


Dẫn nhập cho
Trung dung, Trình tử định nghĩa Trung như sau: “Bất thiên chi vị Trung”, không thiên lệch, đó là Trung. Câu nói ấy khiến có thể hiểu là Đừng đi quá, hay Tránh thái quá vá bất cập. Quả đúng là có “Tránh thái quá và bất cập” đấy, nhưng đây chỉ là kết quả hay cái ngọn thôi. Để hiểu đúng Trung là gì ở gốc của nó, thì cứ việc đọc tiếp liền sau đó, nơi lời diễn giải đầu tiên của đức Khổng.


Hỉ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung;

Phát nhi giai trùng tiết, vị chi Hòa!

(Mừng giận buồn vui khi chưa phát sinh, thì đó là Trung;

Phát sinh mà đúng hợp [với cảnh, việc], thì đó là Hòa).


Nói cách khác, Trung có gì
giống như trạng thái nội tâm lúc chưa xảy ra biến cố: không ghét, ham, mừng, giận, nghĩa là không nghiêng lệch bên này hay bên kia; để khi biến cố xảy ra rồi, thì phản ứng nếu phù hợp và đúng mức cần, thì đó là hòa hợp với đạo. Vừa đúng mức, chứ không để cho thành kiến, đố kỵ hay quan hệ thân, thù chi phối mảy may, thì đúng là Khánh quan rồi. Cũng đúng là Bất thiên (indifferentia) của tu đức học Kitô giáo, tình trạng không thiên lệch giống như khi chưa xảy ra sự việc, để khi xảy ra thì phản ứng đúng mức theo bổn phận và đạo làm người đòi hỏi, chứ không do thiên lệch mà làm quá, cũng không do sợ nể mà bất cập.


Thật ra, nếu chỉ Trung thôi thì chưa có gì nói lên tình cảm gắn bó với lẽ phải và sự thật, nên sánh đôi với Trung, cần phải thêm đức Thành nữa. Thành không phải chỉ là nghĩ sao nói thế. Thành trước hết phải là có sao nghĩ vậy, đánh giá đúng như vậy, nghĩa là Thành với tâm và lương tri, và như thế cũng là khách quan, là Trung luôn.


Nếu luôn thành và trung với lương tri như thế, thì lương tri không còn chi che khuất, sẽ khiến Đạo ngày càng hiện lên rõ, thành như trong suốt, và đây là Trí, là Minh: Trí hướng về hiểu biết thuyết lý, còn Minh hướng về cụ thể và thực hành. Vậy Minh là Phân định (discernement) nó giúp người ta đánh giá một ý nghĩ là đúng hay sai, cũng như giúp ứng phó thế nào cho hợp đạo trong một trường hợp cụ thể. Một đánh giá có tính thực hành thôi, chứ hiểu tại sao lại thế, thì cần phải Trí nữa.


Có điều, để từ phân định mà chuyển thành hành động, thì phải có thêm Dũng, không phải cái “dũng của người phương Bắc” để xông pha giữa rừng gươm lửa đạn, mà cái “dũng của người phương Nam” để chiến đấu với chính mình.

Đạo làm người

Lại nữa, để hành động thẳng ngay mà vẫn còn tính, tình người, thì lại phải có thêm lòng Nhân. Với lòng nhân, người ta dễ cảm thông nỗi khổ của người khác và tôn kính sự sống nói chung, như Trần Trọng Kim nhận xét: “Nhân là đầu các điều thiện, chủ bồi dưỡng sự sinh của trời đất”[4].

Vì là đầu các điều thiện, Nhân thành đỉnh cao của cả tòa nhà đạo đức, mà ở đấy mọi đức tỏa sáng Nhân và dung hợp với nhau để làm nên một nhân cách hoàn mỹ, một con người hoàn bị:  “Quân tử thể Nhân, tức dĩ trưởng nhân”[5].

Trong lúc chưa đạt tới đỉnh cao ấy, thì các đức cương nhu đối nghịch phải sánh đôi để mài giũa và bổ túc cho nhau, nhờ đó tránh thái quá hay bất cập. Vâng, trực quá sẽ tàn nhẫn, khoan dung và từ bi quá sẽ nhu nhược và khuyến khích sự ác.


Từ đức hạnh bên trong đến thuần phong bên ngoài 


Đức hạnh là của tâm hồn, nên có vẻ như gói gọn bên trong mỗi cá nhân. Bởi lẽ cái gốc của một việc làm tốt không phải là những cử chỉ nhìn thấy bên ngoài, cho bằng tâm tình cùng với động cơ và ý hướng vốn ẩn khuất sâu trong nội tâm chúng ta. Quả thật đức tính không sự lặp đi lặp lại của những vận động cơ bắp, mà của những tâm tình và ý muốn, mà những vận động kia chỉ là biểu hiện bên ngoài thôi. Vâng, nếu chỉ có bên ngoài, thì về lâu về dài, cử chỉ (đóng kịch) kia chỉ ngày càng làm thui chột tình cảm đi. Trái lại, tình cảm thương người nếu lặp đi lặp lại sẽ ngày càng vững, càng sâu thêm mãi mãi, khiến cho từ đây, chỉ cần thấy một trẻ em khóc, một con chó rên la, là anh sẽ nhói đau ngay trong lòng, để rồi chính cảm xúc này sẽ đưa tay chân và miệng lưỡi của anh.


Tuy đức hạnh là của tâm hồn đấy, nhưng hễ lòng đầy sẽ ngứa ngáy tay chân, khiến cho một đạo đức chân chính luôn được biểu hiện trong lời nói, việc làm và đời sống. Do đó mà nó thành lây lan, và khi có nhiều người tốt, nhiều hành động tốt diễn ra như vậy, thì tất cả sẽ tạo nên một bầu khí, một môi trường, cùng với cách làm, cách nghĩ tưởng và đánh giá chung của một xã hội. Và đây là thuần phong, mỹ tục. Để rồi sinh ra giữa một môi trường như thế và được giáo hóa theo cung cách sống ấy, đứa trẻ sẽ tốt lên. Vâng, một phong hóa tốt và một giáo dục tốt luôn là cần thiết để tạo nên những xã hội tốt và những nhân cách hoàn mỹ.


Các xã hội xưa, như xã hội Kitô giáo phương Tây trước thế kỷ XIX và xã hội Nho giáo phương Đông trước thế kỷ XX, đều có một phong hóa khá cao nó rèn đúc nên những mẫu người tuyệt vời trong suốt nhiều
thế kỷ. Có điều, một phong hóa không thể không có những khuôn, những luật lệ cùng với dư luận chúng gò ép con người, mà khi gò ép quá nhiều và quá mạnh, thì tự do mất đi sẽ khiến khó sống đạo đức sâu bởi khó sống tự mình. Bầu khí sẽ trở nên khó thở khi con người hiểu biết nhiều hơn, khiến cách mạng bùng nổ thành dây chuyền, và người ta muốn phá đổ hết những gì là truyền thống cùng với những ràng buộc. Trong cuộc lật đổ lan rộng ấy, chẳng những cái xấu mất đi, mà những cái tốt cũng tan theo luôn, trong đó có truyền thống đạo đức.


Ngày nay, và xã hội sa đọa quá rồi, nhiều người bên phương Đông muốn trở về với Nho giáo. Có điều nên nhớ, không thể trở về với truyền thống mà không biến đổi nó để nó phù hợp với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Vâng, phải giữ chặt lấy và giữ lại cái gì là tinh túy hay tinh thần, như Nhân trí dũng, như Thành và Trung dung, cùng với Hiếu, Nghĩa, Tiết. Còn Tam cương, ngũ thường, thì phải sàng lọc kỹ thôi, không thể giữ đủ hết.


Cuộc chiến vì phong hóa không phải là một cuộc chiến vì sự thiện, bởi lẽ sự thiện thuộc tinh thần, còn phong hóa chỉ là biểu hiện bên ngoài, dù môi trường phong hóa rất cần cho giáo dục và sự ph&aacu