Mặc Khải / Mạc Khải

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 581 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

1. Mặc hay mạc?


Năm 1994, trong bản dịch Tân Ước của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (Nhóm CGKPV) xuất bản, nơi chú thích b) của Sách Khải Huyền, đoạn 1, câu 1 có ghi: "Do từ Hy Lạp apocalypsis, dùng từ mặc thay cho mạc. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán-Việt. Mặc khải là Thiên Chúa tỏ bày mầu nhiệm của Người cho nhân loại qua trung gian loài người như ông Môsê, ông Êlia, nhất là qua Chúa Giê-su. Đến lượt mình, Chúa Giêsu lại tỏ cho các Tông Đồ biết mọi bí nhiệm, ý định của Thiên Chúa". Sau đó, Sr. E. Nguyễn Thị Sang (thuộc Nhóm CGKPV) có bài viết nói rõ hơn về lý do Nhóm không sử dụng thuật từ mạc khải. Thời gian gần đây đã có nhiều bài viết hoặc bênh hoặc bác việc sử dụng thuật từ này [1]. Lý do quan trọng, nếu không nói được là duy nhất mà chúng tôi thấy qua các bài chủ trương không dùng thuật từ mạc khải chính là: Mạc khải là thuật từ Hán Việt có cấu trúc danh từ bổ túc + động từ ngược thứ tự bình thường của các thuật từ Hán Việt là động từ + danh từ bổ túc. Ví dụ: khai mạc, bế mạc... Không ai nói mạc khai, mạc bế, vậy cũng không nên sử dụng kiểu nói mạc khải. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán Việt.

 

2. Nguyên ngữ apocalypsis, revelatio.


Mặc khải hay mạc khải dịch từ chữ La Tinh là revelatio, gốc từ chữ Hy Lạp là apocalypsis.


Apocalypsis có tiếp đầu ngữ apo- nghĩa là cách, tách biệt, khỏi (off, from, away); calypsis có nghĩa là che, phủ (cover). Như vậy, apocalypsis nguyên nghĩa là vén màn che lên (lifting of the veil), tức là tỏ ra cho biết, cho thấy.


Danh từ velum trong La ngữ có nghĩa là: Mạng che mặt, khăn trùm hay tấm màn (trước thế kỷ XIII: Pháp: voile; Anh: veil). Từ đó có động từ velare nghĩa là: che phủ, che đậy, giấu kín (thế kỷ XIV: Pháp: voiler, couvrir; Anh: to veil, to cover) và revelare (với tiếp đầu ngữ re- hàm nghĩa là: phản nghĩa với) nghĩa là: bỏ mạng che mặt, cất màn; nghĩa rộng là: khánh thành; trình bày công khai; để lộ, tiết lộ (Pháp: dévoile, découvrir; Anh: unveil, uncover). Từ hậu bán thế kỷ XIV, revelare được dịch sang tiếng Pháp là reveler và tiếng Anh là reveal có nghĩa là: bộc lộ, tiết lộ (điều bí mật); phát hiện, khám phá (vật bị giấu...). Vào khoảng năm 1230, tựa đề quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh được chuyển sang tiếng Anh là Apocalypse. Khoảng năm 1380, John Wiclif (Tin Lành) dịch tựa đề sách này là Revelation. Thời trung cổ, từ này có nghĩa là “insight, vision, hallucination” (thấu thị, thị kiến, ảo giác); ngày nay có nghĩa là “A cataclysmic event” (Một cuộc hồng thủy hay Câu chuyện về ngày tận thế) [2].


Revelatio là [3]: (1) Hành vi vén mở, tiết lộ. (2) Những việc trước đây không được biết đến, nay được biết đến. (3) (Về mặt thần học): (a) Chúa để lộ ra chính mình Chúa và thánh ý Chúa cho các loài thụ tạo. (b) Trường hợp truyền đạt hay tiết lộ. (c) Những việc được truyền đạt hay tiết lộ. (d) Những gì chứa đựng việc tiết lộ này, như Thánh Kinh. (4) Khi viết hoa, là chỉ cuốn Khải Huyền của Thánh Gioan.

 

3. Hành trình đến Viễn Đông


Tại Viễn Đông, các nhà truyền giáo trong những thế kỷ đầu thường dùng những lý lẽ tự nhiên và những chứng cứ thực tế, cụ thể và dễ hiểu để trình bày đức tin Kitô Giáo. Các ngài rất ít khi viện dẫn tới những ý niệm thuộc siêu hình học hay thần học kinh viện cao xa. Vì thế, ý niệm về revelatio vắng mặt trong các tác phẩm như Phép Giảng Tám Ngày [4] và Từ Điển Việt-Bồ-La [5] của cha Đắc Lộ (xuất bản năm 1651) cũng như các thuật từ khải huyền, mạc khảimặc khải đều không có trong những tự điển, tự vị trước năm 1896 như Dictionarium Annamitico Latinum của Đức cha P.J. Pigneaux (1772) Dictionarium Anamitico-Latinum của Đức cha Taberd (1838), Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895-1896).


Có người cho rằng thừa sai Giêrônimô Majorica, S.J. là người đầu tiên đã dịch từ révélation sang chữ Nôm là khải mông [6] trong cuốn giáo lý Công Giáo đầu tiên của Việt Nam là "Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông" (năm 1623). Điều này không đúng, vì cuốn này tuy là bản dịch ra chữ Nôm của cuốn Controverses [7] của Thánh Hồng Y Robert Bellaminô soạn năm 1581-1593, nhưng tựa đề của nó là do cha Majorica tự đặt ra và chính ngài giải nghĩa chữ khải mông là "lời tóm lại mọi sự Đức Chúa Giêsu truyền xưa" (x. đoạn I) còn nội dung bên trong thì không có chỗ nào sử dụng thuật từ révélation cả.


Có lẽ Julien Thiriet là người đầu tiên ghi nhận ý nghĩa phổ thông của từ revelatio là “sự tỏ ra, bày tỏ ra” trong cuốn Tự vị Latinh-Annam [8] xuất bản năm 1868, tiếp theo là P.G. Vallot [9] (năm 1898). Đồng thời gian này, Genibrel [10] ghi nhận révélation được dịch là mặc chiếu, mặc thị. Cha Cố Chính Linh trong bản dịch Thánh Kinh (1914-1916) cũng dịch từ này theo nghĩa phổ thông là "tỏ ra, tỏ hiện, hiện ra, hiện đến, soi sáng". Trong Tân Ước (bản Vulgata) chữ apocalypsis xuất hiện 3 lần, cha Cố Chính Linh dịch là "tỏ sự kín nhiệm" (1 Cr 14,26) và "khải huyền" (tựa sách Kh và Kh 1,1), và ngài chú thích: "Apocalysis nghĩa là bày tỏ ra sự gì kín nhiệm hay là sự gì chưa biết: Revelatio, khải thị, khải huyền v.v...". Bản dịch Thánh Kinh năm 1932 của cụ Phan Khôi cũng dùng chữ tỏ ra (revelation) và sự mặc thị, mặc thị lục (apocalypsis). Chúng tôi chưa tìm thấy chữ khải huyền trong tài liệu nào trước đó (1914) tại Việt Nam cũng như Trung Quốc.

 

3.1 Nghĩa chữ khải


Khải có các chữ Hán: 凱 (凯), 剴(剀), 啟 (啓, 启),塏(垲), 豈(岂), 愷(恺), 楷, 覬, 鍇 (锴), 鎧 (铠), 闓 (闿), 卡, 咳 (cũng đọc là khái), 磕 (cũng đọc là khái), 綮 (棨) (cũng đọc là khể), 榼 (cũng đọc là khạp), và các chữ Nôm: 凯, 凱, 剀, 剴, 启, 啓, 垲, 塏, 愷, 揩, 鎧. Trong thuật từ mạc khải, mặc khải hay khải huyền, khải là chữ啟. Chữ khải 啓: một bàn tay mở cửa, nghĩa gốc là ‘mở’, như Tả truyện: “Môn khải nhi nhập: cửa mở cứ vào”. Nghĩa được mở rộng thành ‘chỉ đường’, như Luận ngữ: “Bất phẫn bất khải, bất phi bất phát: Đối với học sinh, phải chờ đến khi chúng không nghĩ ra, mới gợi ý; chờ đến khi chúng không nói ra được mới giải thích”. Trong tiếng Hán hiện đại, mặc cũng có nghĩa là ‘trần thuật’, ‘thông báo’ [11].


Khải啟có nghĩa là: đt. (1) Mở: Khải môn (mở cửa). (2) Mở mang đất đai: Đại khải Nam Dương (mở mang Nam Dương rất nhiều). (3) Mở trí, chỉ dạy: Khải đạo (hướng dẫn chỉ dạy). (4) Bày tỏ, giải bầy: Khải sự (giải bầy công việc). (5) (cũng đọc là khởi) Bắt đầu: Khải lễ (bắt đầu nghi thức),khải hành (bắt đầu đi). (6) Báo tin (cổ văn): Kính khải giả (Xin báo cáo). dt. (7) Tờ viết (cổ văn): Tạ khải (thư cám ơn). (8) Từ ngữ viết thư, viết sau họ tên người nhận thư: XX đài khải (kính thư XX). (9) Họ Khải. (10) Phiên âm của hành tinh venus: Khải minh tinh.

 

3.2 Nghĩa chữ huyền và khải huyền


Huyền có các chữ Hán: 县, 弦, 悬, 懸, 玄, 絃, 絢, 縣, 舷, 蚿, 衒, 鉉; và các chữ Nôm: 弦, 懸, 玄, 絃. Trong thuật từ khải huyền, huyền là chữ 玄.


Huyền 玄, chữ Hán có nghĩa: tt. (1) Sắc đen, thâm: Huyền thanh (xanh thâm), huyền khuê (thẻ ngọc màu thâm là một loại tưởng lục đời vua Nghiêu). (2) Nghĩa lý thâm thúy, khó hiểu: Huyền diệu (lẽ cao xa khó hiểu), huyền bí. (3) Giả dối, khó tin: Huyền hoặc, huyền ảo. (4) Thanh tĩnh: Huyền mặc. dt. (5) Xa, chút (con của chắt): Huyền tôn (cháu sáu đời). (6) (Tên gọi khác của) tháng chín âm lịch: "Chí vu huyền nguyệt, vương triệu Phạm Lãi nhi vấn nhi (至于玄月,王召范蠡而問焉): Đến tháng chín, nhà vua cho gọi Phạm Lãi vào hỏi" (Quốc ngữ: Việt ngữ hạ). (7) Tên người: Huyền Trân (công chúa nhà Trần con vua Anh Tông, năm 1306 đã lấy vua Chiêm là Chế Mân, với châu Ô châu Ri làm lễ cưới; khi Chế Mân băng, vua Trần sai Trần Khắc Chung đón công chúa về). (8) Tên một loài chim: Huyền điểu (chim yến).


Huyền 玄, chữ Nôm có nghĩa: (9) Đen: Răng đen hạt huyền. (10) Dấu để chỉ âm thanh thấp ở tiếng Việt: Dấu huyền.


Khải huyền(apocalypse): Sách cuối cùng trong bộ Tân Ước, mặc khải những điều huyền bí [12].


Bên Trung Quốc, sách Apocalypsis được dịch là: Khải thị lục (啟示錄), Mặc thị lục (默示錄), revelation [13] được dịch là: khải thị, mặc thị, mặc khải, thiên khải, bộc lộ, yết khai, yết phát. Nhưng thuật từ inspiration [14] (linh ứng) thì họ dịch là: linh cảm, khải thị, khải địch, mặc cảm, mặc khải, mặc thị... [15]. Như vậy khải thị, mặc thị và mặc khải đều được dùng chỉ revelationinspiration! Tông hiến Divino Afflatu (01/11/1911) của ĐTC Piô X, Giáo Hội Trung Quốc đã dịch là “Thánh Thần mặc khải”. Thông điệp Divino Affante Spiritu (30/09/1943) của ĐTC Piô XII, thì có người dịch là: "Thánh Thần mặc khải", người khác dịch là "- mặc cảm", "- mặc thị" hay "- khải địch". Thật là lộn xộn! Năm 1968, dòng Phanxicô Hồng Kông đã dịch toàn bộ Thánh Kinh ra tiếng Hoa, và dùng thuật từ khải thị để dịch revelation và Mặc Thị Lục để dịch sách Apocalypsis. Hiện nay, cuốn Từ Vựng Thẩn Học Kitô Giáo [16] của Đại Học Phụ Nhân xuất bản năm 2005 là một cố gắng để ổn định tình trạng này. Bản dịch Hoa văn Hiến chế Dei Verbum trên website của Tòa thánh cũng dùng thuật từ khải thị để dịch revelationmặc cảm để dịch inspiration.

 

4. Từ "mặc khải"...


Tại Việt Nam, trong những thập niên đầu thế kỷ XX, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã có sử dụng từ mặc khải [17].


4.1 Nghĩa chữ mặcmặc khải

Mặc có các chữ Hán: 默, 墨, 万, 纆, 嘿, 嚜; và các chữ Nôm: 默, 袙, 嚜, 墨. Trong thuật từ mặc khải, mặc là chữ 默. Chữ mặc (默) gồm bộ khuyển (犬) và bộ hắc (黑), 黑 cũng dùng làm hình thanh, chỉ tối tăm, trong bóng tối. Nên nghĩa gốc chỉ con chó lén lút tấn công người. Tấn công ngầm thường không có tiếng động, nên chữ mặc còn có nghĩa là ‘im lặng, không lên tiếng’; nghĩa rộng là ‘lặng lẽ, tĩnh mịch, đen tối, trong bóng tối’ [18].


Mặc 默, chữ Hán có nghĩa: pht. (1) Im (im lìm, im lặng, không nói ra, làm thinh, không lên tiếng): Mặc đảo (cầu nguyện thầm), mặc niệm (đọc thầm trong bụng),mặc toạ (ngồi im), mặc tụng (đọc không ra tiếng, lầm rầm). (2) Thầm kín (âm thầm, kín đáo, ngấm ngầm): Mặc cải chính trị (cải cách chính trị cách âm thầm), mặc thị (ra hiệu lén = tỏ ý một cách kín đáo, signal), mặc nhận (thầm nhận = ưng thuận cách ngấm ngầm). (3) Nhớ (thuộc lòng, nằm lòng): Mặc ký (nhớ trong lòng), mặc tả (viết thuộc lòng), mặc thức (ghi nhớ trong lòng), mặc toán (tính rợ, tính trong bụng). (4) (dùng kết hợp): Mặc mặc (im im = dáng buồn so); u mặc (có tính hài hước nhẹ nhàng). dt. (5) Họ Mặc.


Mặc 默, chữ Nôm có nghĩa: Nín lặng, không thèm nói đến; để tùy tiện, không kể đến: mặc ai, mặc bay, mặc dầu, mặc ý, mặc lòng, mặc sức, mặc tình, mặc xác, mặc kệ = mặc đời, phó mặc.


Mặc khải (révélation) (1) Tỏ lộ những điều bí ấn, khó hiểu. (2) Chỉ những sách có công tác đó. [19]

 

5. ... đến "mạc khải"


Năm 1956, theo sự phân công của của Ban Từ ngữ Chuyên môn trong Hội Nghị Thống Nhất Ngôn Ngữ Sài Gòn (từ ngày 5/9-3/10), Lm. Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh (sau này là Đức ông) được bầu làm trưởng ban đồng thời đặc trách Tiểu ban Danh từ Triết học. Cuốn Từ điển và Danh từ Triết Học mà ngài xuất bản năm 1966 là kết quả của tiểu ban này sau gần 10 năm biên soạn, trong đó chúng tôi thấy có thuật từ mạc khải [20]. Vậy chúng tôi suy đoán rằng thuật từ mạc khải  là do Đức Ông Hiến Minh tạo ra. Trước thời gian này, ngài sử dụng từ mặc khải trong các tác phẩm của mình [21] nhưng về sau thì ngài đã thay đổi bằng từ mạc khải [22]. Vài năm sau, hàng loạt sách quan trọng đã sử dụng từ mạc khải thay cho mặc khải có từ trước như: Hai bản dịch các văn kiện Công Đồng Chung Vaticanô II của cha Trần Văn Thông, Senatus Sài gòn (xb. năm 1969) và của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X; bộ Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh của GHHV Thánh Piô X; Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn và đặc biệt là bộ Sách Bài Đọc, Sách Lễ Rôma, Sách Lễ Giáo Dân của Uỷ Ban Giám Mục về Phụng Vụ... tất cả đều xuất bản trong năm 1971. Đến nay, ngoài cuốn Điển Ngữ Đức Tin Công Giáo của cha Hồng Phúc (xb. 1996) và Tự Điển Đức Tin Kitô Giáo Pháp Việt (bản dịch khuyết danh, xb. 2001?) còn dùng thuật từ mặc khải, các từ điển Công Giáo khác đều sử dụng từ mạc khải mà thôi.

 

6. Chữ "mạc" viết thế nào?


Rất tiếc là chúng ta không biết người tạo ra thuật từ mạc khải đã có ý muốn dùng chữ mạc nào trong tiếng Hán. Vì vậy mà hiện nay có người cho rằng chữ mạc trong mạc khải là  幕 (mạc 莫 thêm chữ cân 巾, nghĩa là cái màn 幕); người khác [23] thì cho chữ mạc là 漠 (mạc 莫 thêm bộ thủy 氵, có nghĩa là yên lặng 漠); hoặc mạc cũng là chữ  mặc 默 trong mặc khải?


Trong Dictionnaire Annamite Français của J.F.M. Genibrel, xb. 1898, tr. 434 có ghi:" 默 MẠC. (= Mặc),  1. Solitude, f. Silence, m. Se taire, r. 2. Mạc tưởng, Méditer, a. Mạc thổn, Considérer, a. Cung mạc tư đạo, Méditer sur ses devoirs dans un." (Nguồn: J.F.M. Genibrel, Dictionnaire Annamite Français, 1898, tr. 434)


Trang 442: "默 MẶC. (Lặng), Silence, m. Mặc thị, Révélation, f. Mặc chiếu, id. Mặc tưởng, Méditer,a. n. Réfléchir, n."

 (Nguồn: J.F.M. Genibrel, Dictionnaire Annamite Français, 1898, tr. 442)


Nếu mạc lấy chữ mạc bộ thủy (漠) hay chữ mặc (默) và lấy nghĩa im lặng, thì rõ ràng mạcmặc đồng nghĩa: mạc khải = mặc khải, chúng ta sẽ không có gì để tranh cãi. Có điều là chỉ có mặc  墨(chữ hắc 黑thêm chữ thổ 土, nghĩa là mực, sắc đen) mới đọc trại là "mạc"; còn nói như Génibrel thì rất lạ, chúng tôi chưa thấy tài liệu nào nói như vậy, kể cả Thuyết Văn Giải Tự說 文 解 字, Khang Hi tự điển 康 熙 字 典, Từ Hải 辭 海và Từ Nguyên 辭源. Mặc默 (chữ hắc 黑thêm chữ khuyển 犬) có thể đọc trại là "mạc" phải chăng chỉ là cách phát âm riêng của một địa phương nào đó ở Việt Nam hay chỉ là một trong những sai sót của cuốn tự điển này? [24]


Như số đông, chúng tôi cho rằng trong thuật từmạc khải, mạclấy nghĩa là màn và viết là幕(mạc có thêm chữ cân).

 

6.1. Nghĩa chữ mạcmạc khải


Mạc có các chữ Hán: 莫, 幕 (幙), 摸, 漠, 獏, 瘼, 瞙, 羃, 膜, 貘, 邈, 鏌 (镆), 鄚, 摹 (cũng đọc là mô), 模 (橅, 糢) (cũng đọc là mô), 寞 (冪, 羃, 幎, 幂) (cũng đọc là mịch), 墨 (còn đọc trại là mặc); và các chữ Nôm: 莫, 漠, 瘼, 訡, 邈. Trong thuật từ mạc khải, mạc là chữ幕, nghĩa là: dt. (1) Tấm màn. (2) Màn (lều bạt): Doanh trại của tướng lãnh (Cái màn che ở trên gọi là mạc. Trong quân phải dương màn lên để ở, nên chỗ quan tướng ở gọi là mạc phủ - bộ tư lệnh quân đội. Người tham mưu bí thư ở trong quân gọi là mạc hữu; những người thư ký coi việc văn thư gọi là mạc liêu.). (3) Màn (sân khấu): Việc bắt đầu hay kết thúc (Đóng tuồng trước phải căng màn, đến lúc diễn trò mới mở, vì thế sự gì mới bắt đầu làm đều gọi là khai mạc (mở màn, dẫn đầu); khi hết tuồng thì kéo màn đóng lại, vì thế sự gì kết thúc cũng gọi làbế mạc (đóng màn, chấm dứt). (4) Màn (kịch): Hồi ở bản kịch: Đệ nhất mạc (Màn một). (5) (còn đọc là mạn hay mán): Mặt trái hay mặt sau của đồng tiền (Đồng tiền thời xưa, mặt phải hay mặt trước có chữ, mặt trái hay mặt sau thì trơn). (6) Có khi dùng như chữ mạc 漠, nghĩa là: Bể cát (sa mạc); yên lặng:đạm mạc (hờ hững, không thể lấy danh lợi làm động lòng được). đt. (7) Bao phủ, che trùm: "Giải triều phục nhi mạc chi: cởi áo triều phục mà che lại" (Quốc Ngữ Hoạt Dụng Từ Điển) (8) (dùng kết hợp) nội mạc (chuyện thật bên trong), mạc yến (én làm tổ trên màn: tình cảnh nguy ngập, ‘trứng treo đầu gậy’).


Mạc khải(révélation): Tác động của Thượng Đế bộc lộ những điều vượt tầm hiểu biết của con người. Td: Sự hiện hữu của Thượng Đế vừa do lý trí khám phá vừa được chính Ngài mạc khải [25].

 

7. Mạc khải có sai ngữ pháp?


Mạc khải (幕啟) là từ ghép không có trong tiếng Hoa, chỉ mới có trong tiếng Việt gần 50 năm nay [26].


Trong tiếng Hoa có những từ ghép như: thùy mạc (垂幕,dt.:thả màn, drop curtain), yết mạc (揭幕, đt.: vén màn, to unveil,)... Nhưng những cụm từ như: mạc khải (幕啟kéo màn, the curtain rises), mạc lạc (幕落hạ màn, curtainfall), mạc thùy (幕垂thả màn, the curtain dropped) là những cụm từ tự do. Trong tiếng Việt, dù các thành tố đều có gốc Hán, nhưng nếu xét theo quan hệ cú pháp tiếng Hán, ta có những từ ghép như: khai mạc, bế mạc... (thành tố chính sau - thành tố phụ trước), còn xét theo quan hệ cú pháp tiếng Việt, ta cũng có những từ ghép như: trưởng đoàn, viện hàn lâm... (thành tố chính trước - thành tố phụ sau). Đặc điểm này có người gọi là "văn phạm kép" của tiếng Việt.


Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp [27], từ ghép có hai đặc điểm là: (1) Hoàn chỉnh về nghĩa và (2) Tính phi cú pháp trong quan hệ của các thành tố cấu tạo:


(1) Một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó có khả năng biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói. Từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa, còn cụm từ tự do không có tính chất này. Mạc khải được coi là từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa vì trong bất kỳ trường hợp nào nó cũng đã được sử dụng như một thuật từ chuyên biệt (để chỉ tác động của Thượng Đế bộc lộ những điều vượt tầm hiểu biết của con người) chứ không phải là cụm từ tự do.