Phúng điếu

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 647 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

1. Một gia đình nọ, bà nội mới qua đời. Người nhà bàn việc an táng, anh cả nói rằng chúng ta giàu có, nên viết rõ “xin miễn phúng điếu”. Người em thì nói miễn luôn vòng hoa. Người chị thì hỏi có nên miễn xin lễ không. Má lại bảo không nên viết “xin miễn phúng điếu”. Rồi cả nhà cãi nhau! Nên “xin miễn phúng điếu” hay không? Câu trả lời ở nơi thuật từ “phúng điếu”. Vậy “phúng điếu” nghĩa là gì? Thuật từ này được sử dụng rất phổ biến, nhưng không phải ai cũng hiểu ý nghĩa của nó, cho nên tìm hiểu ý nghĩa của thuật từ này là cần thiết.


2. Phúng-điếu

2.1 Phúng: có những chữ Hán sau đây: 賵, (赗), 葑 (còn đọc phong), 風 (còn đọc phong), 諷, (讽), 縫, (缝) (còn đọc phùng). Trong thuật từ phúng điếu, phúng là chữ 賵 (phúng), có bộ bối (貝) và chữ mạo (冒). Bối (貝) nghĩa là tiền tài, còn mạo (冒) nghĩa là che đậy. Nên nghĩa nguyên thủy của chữ phúng là tặng áo xống đồ vật cho người chết để che đắp thi hài; cốt ý là tặng cho người chết, giúp tiền của cho nhà hiếu làm ma chay. Hiện nay phúng có nghĩa là: dt. (1) Đồ tặng người chết; đt. (2) Đem lễ vật tới cúng người chết, dùng xe ngựa giúp người ta chôn kẻ chết.

Chúng ta nên phân biệt rõ: (1) Giúp xe ngựa gọi là phúng (賵), giúp tiền bạc gọi là phụ (賻); giúp quần áo gọi là tùy (禭) (2) Cho người chết gọi là phúng (賵), còn cho kẻ sống gọi là phụ (賻) [1].

2.2 Điếu: có những chữ Hán sau đây: 弔, 吊, 窎, 葯, (药) (còn đọc dược, ước), 窵, 釣, (钓). Trong thuật từ phúng điếu, điếu là chữ 弔 (吊, điếu). 弔 là chữ hội ý, gồm hai chữ nhân (人) và cung (弓). Cổ xưa người chết không được chôn, nhưng để nơi hoang vắng và dùng củi che lại, nhà hiếu và những người đi viếng kẻ chết thường mang theo cung tên để canh giữ, không cho dã thú ăn xác kẻ chết. Nên nghĩa nguyên thủy của chữ này là viếng thăm kẻ chết. Chữ điếu (弔) nghĩa là: đt. (1) Viếng kẻ chết; (2) Tỏ lòng thương tiếc đối với người chết; (3) An ủi; (4) Treo, máng: điếu kiều (cầu treo, cầu rút); (5) Rút lại; (6) Xách lấy, cắt lấy; dt. (7) Việc viếng kẻ chết; (8) Một xâu tiền thời xưa (một ngàn đồng tiền là một điếu, cũng như ta nói là một quan vậy). Thật ra chữ điếu (吊) có bộ khẩu (口) là chữ dân gian của chữ điếu (弔) có bộ cung (弓), xưa hai chữ này đồng nghĩa, nhưng nay đã sử dụng khác nhau, chữ điếu (弔) có bộ cung (弓) chỉ có nghĩa liên hệ tới viếng người chết, còn điếu (吊) có bộ khẩu (口) thì dùng cho các nghĩa treo, máng hay rút lại. Vì chữ Việt là chữ phiên âm, không thể phân biệt chữ 弔 hay 吊, nhưng chúng ta cũng nên nhớ trong thuật từ phúng điếu, chữ điếu chỉ có nghĩa viếng kẻ chết, mà không có nghĩa treo, máng hay rút lại gì cả.

Chữ điếu còn có nghĩa Nôm là: (1) Đồ dùng để hút thuốc lào; (2) Thuốc lá cuốn thành hình ống dài để hút: điếu thuốc lá.

2.3 Nghĩa của từ phúng điếu.

Từ những tìm hiểu trên, chúng ta thấy phúng có nghĩa là đem lễ vật tới cúng người chết, hay chính xác hơn là giúp nhà tang bằng xe ngựa. Ngày nay ít người còn dùng ngựa nữa, chúng ta có thể tạm hiểu là đem lễ vật tới cúng người chết. Còn chữ điếu nghĩa là viếng thăm kẻ chết. Vậy phúng điếu là đem lễ vật đến cúng người chết, thăm hỏi và chia buồn cùng tang quyến.

Lễ vật phúng điếu không chỉ là tiền, mà có thể là vòng hoa, lẵng hoa, thẻ nhang, nhang đèn, trướng liễn, điếu văn, người Công Giáo còn đem tiền xin lễ nữa…Theo sử kể lại rằng khi vua Khải Định băng hà (1925), hoàng gia nhận được nhiều trướng liễn phúng điếu, trong đó có trướng liễn của vua Duy Tân (lúc đó vua đang bị đày ở đảo Réunion) viết: 

"Ông vội bỏ đi đâu, bỏ bạc, bỏ tiền, bỏ vợ, bỏ con, bỏ hát bội, thầy tu, bỏ hết trần duyên trong một lúc".

"Tôi nay còn lại đó, còn trời, còn đất, còn non, còn nước, còn anh hùng, hào kiệt, còn nhiều vận hội giữa năm châu". (Theo Hoàng Trọng Thược).

Tóm lại: Phúng điếu nghĩa là vừa viếng thăm kẻ chết vừa an ủi tang gia, vừa chia sẻ tinh thần lẫn vật chất. Vậy khi đã viết câu “xin miễn phúng điếu” mà vẫn đón tiếp người đến thăm hỏi và chia buồn cùng tang quyến... thì quả là đã làm không đúng với ý nghĩa của thuật từ này! Có lẽ vì người ta thường chỉ đơn giản hiểu hai chữ phúng điếu là biếu tiền để giúp tang gia lo việc an táng mà thôi.

2.4. Phong tục Việt Nam về phúng điếu

Đây là một thuần phong mỹ tục của người Việt chúng ta, phúng điếu là hình thức thể hiện lòng kính trọng đối kẻ chết qua những lễ vật hay điếu văn. Qua những hình thức phúng điếu như vậy người Việt thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, tương trợ giữa con người với nhau. Nếu chúng ta cảm thấy đủ sức lo việc ma chay và thể hiện lòng hiếu thảo mà không cần người ta giúp tiền thì cũng có thể nhận tiền biếu để làm việc thiện, đây đã là một thói quen tốt của nhiều người không Công giáo. Sao chúng ta không bắt chước nhỉ? Chúng ta có thể dùng tiền phúng điếu đó giúp những cơ sở từ thiện, hay giúp chủng viện để tào đạo linh mục, tất cả chủng viện tại Việt Nam đang rất cần chúng ta giúp đỡ mà chúng ta thường quên mất.

3. Văn hóa về sự chết -  những khác biệt giữa Đông và Tây

3.1. Nhất nguyên luận của Trung Quốc và nhị nguyên luận của Phương Tây.

Chúng tôi bàn về Trung Quốc, vì thật ra Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Quốc rất nhiều, từ những tìm hiểu này chúng ta có thể thấy phần nào tâm thức người Việt chúng ta.

Kính thờ tổ tiên là một yếu tố tâm lý rất quan trọng trong văn hóa Trung Quốc, họ đặt kẻ chết và ma chay với nhãn quan nhất nguyên luận. Tuy người Trung Hoa rất coi trọng linh hồn, nhưng thông thường họ lại coi trọng thân thể hơn. Họ không những vẫn xem người chết là một thành viên của gia tộc, mà còn xem bài vị và ngôi mộ của kẻ chết là tượng trưng tồn tại nối dài của kẻ chết. Cho nên việc tế tổ được xem là rất thiêng liêng và phải được kính trọng, việc kính tổ tiên này làm cho người Trung Quốc thích tổ chức ma chay một cách rất trọng thể.

Phương Tây xem sự chết với quan điểm nhị nguyên luận, họ coi trọng linh hồn hơn thể xác, coi thể xác chẳng qua là nơi cư trú của linh hồn. Chết là việc giải thoát và thăng tiến của linh hồn, linh hồn có thể tồn tại riêng lẻ ngoài thể xác. Lễ an táng là để an ủi linh hồn của kẻ chết, cho nên lễ an táng rất trang nghiêm và đơn giản.

3.2. Chế độ dòng tộc của Trung Quốc và chế độ Giáo Hội của Phương Tây.

Chế độ xã hội dòng tộc trong dòng máu, gia tộc, đạo hiếu của người Trung Quốc đã thắm vào văn hóa về sự chết. Đạo hiếu không những là nguyên tắc c