Thánh Mẫu với Tây Hồ

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 527 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

Thánh Mẫu với Tây HồĐương lúc cao hứng ngâm vinh về Tây Hồ, họ lồng tâm tư của mình vào xã hội đương thời - Thế kỉ XVI, chiến tranh giữa nhà Mạc và Lê - Trịnh.Họ muốn cuộc sống thanh bần, không quị lụy mưu cầu công danh giàu sang trong thời buổi nhiễu nhương.


Khi ấy Phùng Khắc Khoan đi xứ phương Bắc mới về trông coi việc bộ Lại. Việc quan bận rộn giấy tờ chất đống suất ngày không lúc nào được thư thái. Tuy vậy có lúc ông nhớ lại những danh lam cổ tích  đã đi qua như Động Đình, lầu Hoàng Hạc, lầu Nhạc Dương, sông Xích Bích…là thắng cảnh của Trung Quốc, lại luyến tiếc buổi phóng khoáng và ngán ngẩm cảnh phiền nhiễu quan trường ông nhớ câu thơ của Sầm Lấu Tử:


                        “Soa lạp duyên hồ vinh bội ấn

                          Tang ma hề đá thắng phong hầu ”

 

(Tơi nón dạo chơi bên hồ thúi hơn cảnh làm quan

Cùng với dâu gai đồng nội vui hơn được phong hầu)

 

Ngẫm lời thơ khiến Phùng Công tính chuyện nhàn du cho tinh thần khuây khoả. Ông cùng cử nhân họ Ngô, tú tài họ Lý đến Tây Hồ dạo chơi. Hôm ấy là ngày đầu hạ, trời trong sáng, mây lững lờ trôi, ba người thăm cảnh Hoàng đình thuỷ tạ, lại ngắm dài  “Thượng Lâm ” và phút chốc tới Tây Hồ, nhân cản hứng, tú tài liền bảo Phùng Công:

 

            - Ngài học giầu năm xe, tài cao bẩy thước sao gặp lúc trời quang cảnh đẹp lại không thi hứng?

 

            Phùng Công nghe bạn nói liền ngâm:

 

             “Danh lợi bôn ba nhất phiến trần

              Tây Hồ thốn bộ hốt nhân thân

              Bồng Lai phương thượng giai hư huyền

              Thuỷ tín Tiên phàm tống tại nhân ”

 

(Danh lợi bon chen một lẽ đời

Tây Hồ phóng bộ nhàn dạo chơi

Cảnh Tiên chốn Phật đều hư ảo

Tiên phàm cốt chỉ sống thảnh thơi),

 

Nghe xong Ngô cử nhân tiếp lời:

          “Oánh nhiên phương thốn tục trần vô

            Bao khoát càn khôn nhất hoạ đồ

            Tễ nguyệt quan phong tuỳ sái lạc

            Mục trung hà xứ bất Tây Hồ ”,

 

            (Những mong quets sạch bụi trần nhơ

             Thâu tóm đát trời chung hoạ đồ

             Trăng trong gió mát chiều du khách

             Nào đâu hơn cảnh chốn Tây Hồ)


Lý tú tài nghe thơ song tiếp tục ngâm :

           “Hoa nghinh khách điếm liễu nghinh thuyền

            Tận nhật Tây hồ tận tuý miên

            Tỉnh khởi thi đàm kinh tứ hoạ

            Thử thân ưng thị trích thần tiên ”

 

            (Hoa cầo khách đến liễu mừng thuyền

             Ngày đẫy Tây Hồ ngủ triền miên

             Tỉnh giấc bàn thơ tin khắp chốn

             Thân này ví tựa tiểu thần tiên).


Nghe xong thơ của hai bạn, Phùng Công vui vẻ nói:

- Thơ Ngô huynh thanh kì, tứ thơ của Lý huynh phóng dật, tuy vậy khí hai huynh có khác nhau, nhưng đều là tuyệt diệu, đáng là thiên tài vậy!

 


Ngô và Lý đều nói :     

 - Tứ thơ của lão đại thâm trầm lỗi lạc, chính là phong cách đại gia. Chúng tôi thuộc hàng vãn bối, bắt chiếc chưa nổi có đâu xứng dáng với lời quá khen của ngài.

 

Tuy vậy cung quảng không xa, cành quế lại gần, biết đâu Hằng Nga lại đem lòng yêu kẻ sĩ si tình này vậy ?

 
Nghe vậy cả ba người đều phá lên cười vui vẻ, rồi lại tiếp tục bách bộ ven hồ. Bỗng thấy một toà  “tửu lâu” dưới bống hoè, cùng hàng trúc. Trước quán có biển đề: “Tây Hồ Phong Nguyệt ”, bên cửa có câu đối:

 

           

            “Hồ trung  nhàn nhật nguyệt

             Thành hạ tiểu càn khôn”

 

            (Ngày thánh an nhàn cùng bầu rượu

             Dưới thành như thu nhỏ vùng trời).

 


Trong quán thấp thoáng bóng người mặc áo đỏ xinh tưoi đứng cạnh cửa sổ,Lý sinh đứng trước tửu lâu hỏi:

- Đây là nơi nào? Chúng tôi quá bước nhầm cõi, muốn nhờ quí trang mượn làm nơi tháng hội “ Lan Đình ” liệu có được phép chăng ?

 

Người trong quán thưa:

- Đây là quán hàng của Liễu Nương, các vị là người thi tửu ngồi chốc lát hẳn có hại gì.

 

Nói song liền sai thị nữ cuốn rèm cửa, ba người đĩnh đạc bước vào ngồi ở cửa sổ phía nam dùng rượu, bước đầu họ cảm nhận sự trang nhã trong quán, trước thềm còn có chim oanh vũ líu lo, trên tường còn treo một bức tranh cổ và những cổ thi đường nét tuyệt diệu. Hương sen thoảng đua từ hồ vào gây cảm giác thơm mát dễ chịu.

 

            Liễu Sinh đưa mắt nhìn bài thơ tứ tuyệt ở tường phía đông:

 

                        “Điểm phương môn nội chiếu minh nguyệt

                         Thời chính nhân bàng lập thổ khuê

                         Khách hữu tâm tinh cầu nguyện đới

                         Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề ”.

 

Lý Sinh có ý hỏi Phùng Công ý bài thơ, Phùng suy ngẫm chưa trả lời thì Lý Sinh đem bốn câu tứ tuyệt đoán triết thành chữ: “Điểm phương nhân - Thời chính khai – Khách hữu tâm - Huệ nhiên lai”.

 

            Tạm dich:

                                    Quán đương rỗi

                                     Ngày rất tốt

                                     Khách có lòng

                                     Mời tới chơi.

 

Đoán chữ xong, nhân ngà ngà chén rượu Lý Sinh nói lớn:

-   Chủ nhân có lòng mời khách đến chơi, nay khách đã đầy nhà mà để ngồi xuông vậy sao ?

 

Nói vừa dứt thì thị nữ mang một bức hoa tiên đến nói :

- Chủ nhân tôi nghèo không có gì kính tặng, nay có bài thơ dâng rong khi tửu hứng, nếu quí khách không tiếc lời vàng ngọc hẳn là cuộc đàm thoại nhân ngày gặp gỡ.

 

Lý Sinh tiếp lấy đề thi, xem ra bài thơ  “Tây Hồ quan ngự ” ra vẻ suy nghĩ, Phùng Công nói lớn:

 

Chúng tôi xin tiếp nhận nhã ý của chủ nhân, xin sẽ liên ngâm, hiểm vì tài non thơ kém, muốn có điều “ dương xuân ” do chủ nhân mở đầu liệu có được chăng:


“Tây hồ biệt chiếm nhất hồ thiên ”


Lý Sinh tiếp:

 

                     “Túng mục kiền khôn tân khoát nhiên,

                       Cổ thụ nhiều trang thanh mịch mịch”

 

Phùng Công ngâm tiếp :

                        “Kim ngưu thoát thuỷ lục quyền quyên

                          Sinh nhai hà xứ sổ gian ốc”

 

Ngô Sinh :

            “Hoạt kế thuỳ gia nhất chích thuyền

             Các trúc sơ ly văn khuyến phệ”,

 

Rồi ba người nói tiếp xướng hoạ …cuối cùng Phùng Công xướng câu:   “ Văn chung xa giác tâm vi Phật ”,

 

Bỗng trong lầu có người tiếp câu :

“Đắc nguyệt ưng tri ngã thị Tiên ”.

 

Ba người đều khen:

- Thật là câu kết hay.


Tạm dịch bài thơ như sau :

 

                        Hồ Tây riêng chiếm một vùng trời

                         Phong cảnh thiên nhiên tự đầy vơi

                         Cổ thụ quanh nhà xanh xanh thẳm,

                        Trâu vàng vùng vẫy nước trắng ngời

                         Vài gian nhà nhỏ che mưa nắng

                         Một chiếc thuyền câu kế mưa sinh

                         Ấm trà bên vách nghi ngút khói

                         Cánh giậu cài thưa chó sủa rinh

                        Chèo quế thênh thang nhè nhẹ đẩy

                         Tơi nón đó đây vẫn lướt hoài

                        Văn cảnh Động Đình kìa Phạm Lãi

                        Cưới bè Trương Khiên đến mọi nơi

                        Nghìn tầm nông sâu đều đã rõ

                        Vật vờ bốn phía cảnh chơi vơi

                        Vững chèo khoan nhặt lau lách lướt

                        Hò khoan tiếng hát sú vẹt trôi

                        Bạn cùng cò cốc trên bãi cát

                        Lại đó diều hâu mặt biển khơi

                        Mấy khúc hát ca trên biển cả

                        Một đôi mắt trắng phớt sự đời

                        Kìa ai lã súng hái làm tiền

                        Nón thả mặt hồ rau chẳng héo

                        Giỏ ngâm dưới nước cá vẫn tươi

                        Chén rượu trong hoa say say khướt

                        Gác chèo bóng liễu tựa gối mềm

                        Say rồi quẳng giỏ trên hồ nước,

                        Tắm gội song rồi hóng nắng mai

‘        &nb