Đức Giám mục Bá Đa Lộc & công cuộc truyền giáo tại Việt Nam

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 1745 | Cật nhập lần cuối: 2/3/2016 8:53:28 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

Ai đã sống ở Nha Trang hoặc đã có lần ghé qua miền thùy dương cát trắng này chắc cũng có dịp đi hưởng gió trên đại lộ Duy Tân thơ mộng rợp bóng dừa, chạy dọc theo bờ cát trắng kéo dài từ khu Xóm Bóng cho đến Cầu Đá. Đối với tôi, bãi biển Nha Trang đã ôm ấp bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của tuổi thanh xuân. Nói đến biển Nha Trang là nói đến một khung trời vô tư, thơ mộng pha lẫn phá phách, nghịch ngợm của tuổi học trò. Trong những giờ nghỉ học, tụi tôi thường rủ nhau ra tắm biển, đứa thì bị ăn trộm mất quần, đứa thì bị sóng đánh mất dép, vào lớp phải tìm cách nói dối với thầy cô. Tôi còn nhớ nhiều buổi trưa nắng chói, cong lưng trên chiếc xe đạp từ khu Phước Hải với những ổ gà đau nghiến, theo đường Lê Thánh Tôn ra đến đại lộ Duy Tân êm phăng phắc để hóng gió biển… Giờ đây, bao kỷ niệm êm đềm đó chỉ còn là những dư âm gói ghém theo tiếng sóng não nề, miệt mài vỗ vào bờ cát trắng Nha Trang.


Có nhiều lối ra biển, nhưng con đường Bá Đa Lộc, chạy từ ngã sáu Nhà Thờ Núi ngang qua Quân Y Viện Nguyễn Huệ, Trường Võ Tánh, theo bên hông Tòa Giám Mục ra biển, là con đường quen thuộc nhất đối với tôi. Suốt bảy năm trường, bất kể nắng hay mưa con đường thân thương này với hai hàng cây xanh um che phủ đã đưa tôi đến trường. Dưới bóng mát của hàng cổ thụ hai bên đường có những quán chè chuối, chè đậu xanh, những xe gỏi bò khô, thu hút ít nhiều đám học trò tụ tập tán gẫu. con đường này thì quá quen thuộc, nhưng về thân thế và sự nghiệp của Bá Đa Lộc là tôi mù tịt. Khi còn học ở Võ tánh tôi chọn ban “B” nên ít chú tâm đến Sử Địa. Tôi chỉ biết một cách mơ hồ rằng đây là một vị Giám Mục Pháp đã qua truyền giáo ở Việt Nam. Biết bao nhiêu đó để đủ tự hào với đám bạn học bên Phật giáo là đủ rồi. Mãi sau này khi học Giáo sử mới nhận ra cái tên quen thuộc ngày nào, và từ đó muốn tìm hiểu thêm về vị Giáo Sĩ này.


Lịch sử Á Đông vào cuối thế kỷ 18 đã ghi lại những trang sử hào hùng của các giáo sĩ dám “ăn to nói lớn”, và đã gây ảnh hưởng lâu dài trong công cuộc truyền bá Phúc Âm. Trong đó có Đức Giám Mục Bá Đa Lộc (tên Pháp Pigneau De Behaine), người đã hoạt động tích cực trong cánh đồng truyền giáo Việt Nam hơn 30 năm và cuối cùng đã chết trong khi theo đuổi lý tưởng phục vụ của mình. Cái tên Bá Đa Lộc ít khi được đề cập đến như Alexander De Rhodes hoặc Matteo Ricci.


Nhiều sử gia ngoại quốc chỉ nhìn Bá Đa Lộc qua lăng kính “xâm lăng” hoặc chủ nghĩa “thực dân” của Pháp. Nhưng nếu nhìn vào thực tế quân sự và chính trị của Việt Nam ở hậu bán thế kỷ 18 thì Bá Đa Lộc đã có công rất nhiều trong việc giúp Nguyễn Ánh thắng Nhà Tây Sơn, thống nhất sơn hà, lập nên triều đại nhà “Nguyễn”, một cái tên họ thông dụng nhất của người Việt mà cả thế giới đều biết đến. Bá Đa Lộc có tài lãnh đạo, biết nhìn ra tiềm năng của lịch sử, nắm bắt cơ hội và tin tưởng mạnh mẽ vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Cũng nhờ đó mà Kitô giáo ở Việt Nam có được 30 năm bình an và hồi phục, để rồi phải đối đầu với những cuộc bách hại đẫm máu vào giữa thế kỷ thứ 19. Tuy nhiên, trước khi đi quá xa, chúng ta hãy tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của nhà truyền giáo này qua ba thời điểm: giai đoạn chuẩn bị (1767-1784), giai đoạn thuyết phục (1785-1789), và giai đoạn hành động (1789-1799).


1. Giai đoạn chuẩn bị (1767-1784)


Vào năm 1783, Đức Giáo Hoàng Clement XII giao cánh đồng truyền giáo miền bắc thuộc Vua Lê cho Dòng Tên và miền nam thuộc Chúa Nguyễn cho Hội Thừa Sai Pháp. Mặc dù đất đai của Chúa Nguyễn nhỏ bé, nhưng không ngăn cản nổi làn sóng giáo sĩ, thương gia, và cả những nhà mạo hiểm Âu Châu muốn tìm đất mới để khai thác. Thật vậy, trên giấy tờ người Pháp đã có dự tính xâm chiếm vùng đất này cả chục lần giữa các năm 1720 và 1780. Nhưng vì khó khăn về tài chánh, chiến tranh liên miên, với Cách Mạng Hoa Kỳ (1776) và Cách Mạng Pháp (1789) Việt Nam còn được “để dành”, chưa bị đụng đến bằng võ lực.


Trong giai đoạn này, Cha Bá Đa Lộc, khi đó 25 tuổi, mới chịu chức, được Hội Thừa Sai Pháp gởi đến hoạt động tại một chủng viện ở Thái Lan (1766). Cha Bá Đa Lộc vốn chăm chỉ, thông minh, nóng lòng muốn đem Lời Chúa đến dân ngoại, đạ học tiếng Việt và chẳng bao lâu biết dâng Thánh Lễ và giảng trôi chảy bằng ngôn ngữ này. Là một giáo sư chủng viện, nhưng Cha Bá Đa Lộc đã tìm cách kết nối với các giáo sĩ truyền giáo tiền nhiệm trong vùng và đã nhiều lần đến thăm Macao và Hà Tiên trước năm 1767.


Đúng một năm sau khi ngài được gởi đến làm cha giáo ở Thái Lan thì chủng viện này bị đốt trong cuộc nổi loạn. Cha Bá Đa Lộc được Tổng Trấn Hà Tiên là Mặc Thiên Tử cho tá túc trên một hòn đảo nhỏ. Nơi đó, ngài cho xây một chủng viện đơn sơ, nghèo hèn, khởi đầu bằng một nhà nguyện với mái tranh không có vách. Bá Đa Lộc được bổ làm Cha Bề Trên và chịu trách nhiệm dạy dỗ, chăm sóc cho khoảng 40 chủng sinh. Cả thầy lẫn trò, ngày nghỉ phải lên rừng chặt củi về xây nhà, sau gần một năm mới hoàn tất, gọi là Chủng viện “Hòn Đất”. Đây cũng là lúc dân Cao Miên thường hay phá quấy đất Hà Tiên. Các chủng sinh thường bị bắt bớ, hăm dọa luôn, nhiều lần phải trốn chui vào rừng. Chính Bá Đa Lộc cũng đã bị bắt vào lao bốn tháng. Theo lá thư đề năm 1768 trong chốn tù đày, với gông cùm mang trên cổ và hai chân, Cha Bá Đa Lộc đã không sờn lòng, trái lại còn cầu xin cho được vinh phúc tử đạo hợac chết rũ trong tù.


Cuối cùng vào tháng 10, 1769 một nhóm giặc Miên nổi lên chiếm Chủng Viện Hòn Đất làm tổng hành dinh, giết tất cả các nữ tu và đệ tử, các thầy nhanh chân chạy trốn được. Để tiêu diệt đám giặc này, Mặc Thiên Tử ra lệnh phóng hỏa Chủng Viện. Một lần nữa không còn mái tranh nương tựa, chẳng còn một viên đá tựa đầu trên đất Việt, đám thầy trò Bá Đa Lộc lủi thủi ra đi theo các thuyền buồm đến Ấn Độ vào tháng 12 năm ấy. Ở đó chưa đủ một năm thì Cha Bề Trên Bá Đa Lộc, bấy giờ 29 tuổi, được chọn làm Giám Mục phó Địa Phận Đàng Trong Việt Nam, với Hiệu Tòa là Adran. Khôn khéo và khiêm tốn, Cha Bá Đa Lộc đã chờ đến 3 năm sau mới lãnh nhận chức Giám Mục. Trong khi chờ đợi, ngài theo bước chân học giả linh mục Alexander De Rhodes, soạn một cuốn tự điển Latin-Pháp-Việt: Dictionarium Anamitico Latinum vào năm 1773, và trở về Macao cho xuất bản một Bổn Giáo Lý, nóng lòng chờ ngày trở lại cánh đồng truyền giáo Việt Nam.


Khi Giám Mục Bá Đa Lộc trở lại Hà Tiên (1775) thì lệnh cấm đạo ở Miền Nam đã được hủy bỏ, trong lúc đó thì sức mạnh của Nhà Tây Sơn đang lên làm cho Chúa Nguyễn điêu đứng. Trong trận đánh năm 1777 quân Tây Sơn sát hại cả dòng họ Chúa Nguyễn, chỉ có người cháu là Nguyễn Ánh chạy thoát được, lúc đó mới 16 tuổi. Cơn hoạn nạn của gia đình Chúa Nguyễn cũng là cơ duyên cho tương lai của Bá Đa Lộc. Ngài giúp Nguyễn Ánh trốn thoát vào Vịnh Thái Lan. Vì trong dịp ra tay cứu người làm phước này, Bá Đa Lộc, vốn là một giáo sĩ, một nhà giáo dục, một học giả, nay tìm thấy “ơn gọi” làm khải đạo cho Nguyễn Ánh và đương nhiên trở thành một “chính trị gia” và “quân sư” bất đắc dĩ. Trong 20 năm tới, lịch sử sẽ chứng minh thiên tài lãnh đạo và trí thông minh của ngài đã đem lại nhiều thành công quan trọng.


Nhưng thành công thường phải trải qua nhiều trở ngại cam go. Suốt bốn năm (1777-1781) Nguyễn Ánh bôn ba trong Vịnh Hà Tiên, gom góp được một số binh sĩ Việt, Miên và chiếm lại được một vài tỉnh miền Nam cùng với Sài Gòn để làm đất dung thân. Trong thời gian này, Giám mục Bá Đa Lộc vẫn theo khuyên bảo, nhắn nhủ vị tướng quân trẻ này bớt hung hăng, cố chịu đựng kiên nhẫn và đối xử tử tế với hàng quan lại lớn tuổi. Cũng lúc đó, ngài còn giúp Nguyễn Ánh trong các quyết định quân sự và nội bộ triều đình. Ước nguyện thầm kín của Bá Đa Lộc là một ngày kia Nguyễn Ánh sẽ trở thành một “Constantinô” thứ hai và Việt Nam sẽ trở nên quốc gia Công giáo. Rất tiếc, thành công quân sự của Nguyễn Ánh không giữ được lâu. Năm 1782, Tây Sơn đem thủy quân đánh chiếm lại Sài Gòn. Cả Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh phải bỏ chạy lần nữa, lẫn trốn trong Vịnh Thái Lan gần một năm. Sau khi quân Tây Sơn rút về, Nguyễn Ánh nóng lòng đem mười ngàn lính do vua Thái cung cấp trở lại chiếm Sài Gòn, nhưng cũng bị đánh vỡ tan tành. Lần này, Nguyễn Ánh bị rượt cho đến cùng, phải bỏ cả thủy đoàn mà chạy, chỉ đem theo được vài trăm tên lính hộ vệ. Lang thang đó đây, trong cơn đói rách quân lính phải đào củ trên các hoang đảo mà ăn. Lúc này Nguyễn Ánh bắt đầu hoang mang, phân vân có nên cầu cứu sức mạnh Âu Tây để có thể đẩy ngược làn sóng vận mệnh của Nhà Tây Sơn.


Trong lúc đó thì vị Giám Mục, vì đã tính trước đang sống an toàn với các chủng sinh của ngài trên một hòn đảo cách Hà Tiên 200 cây số. Nguyễn Ánh thường đến tá tục và xin thực phẩm cho đám tân binh, và tỏ ra rất cảm động trước tấm lòng nhân đạo của Bá Đa Lộc. Ngược lại vị Giám Mục này đã chinh phục được lòng tin cậy của Nguyễn Ánh và từ đó, vị chúa trẻ tuổi đã giao cho ngài đứa con độc nhất, tức Hoàng Tử Cảnh mới lên sáu, để được dạy dỗ chăm sóc. Một số quần thần cũng chịu Phép Rửa và trở lại đạo. Phần Nguyễn Ánh tuy vẫn tham dự Thánh Lễ và nghe Bá Đa Lộc giảng bằng tiếng Việt, nhưng vẫn chưa muốn chịu Phép Rửa. Bá Đa Lộc sẽ được thực hiện ước nguyện của mình như thế nào? Và ngài sẽ đóng vai trò gì trong sự nghiệp thống nhất sơn hà của Vua Gia Long trong tương lai? Chúng ta hãy tìm hiểu thêm.


Image Hosted by ImageShack.us

Gm Bá Đa Lộc (Mgr Pigneau de Béhaine)


2. Giai đoạn thuyết phục (1785-1789)


Nguyễn Ánh tuy rất tin tưởng vào Bá Đa Lộc nhưng còn lưỡng lự không muốn ra mặt nhờ người Pháp giúp đánh lại Nhà Tây Sơn. Ông không muốn lặp lại cảnh “cõng rắn cắn gà nhà” của Vua Lê. Hơn nữa, ông ta vẫn còn nhớ những thủ đoạn của thực dân Pháp muốn chiếm lấy Việt Nam làm thuộc địa thương mại như trong các biến cố năm 1768 và 1778. Giữa năm 1777-1784, khi Sài Gòn đổi chủ bảy lần, Nguyễn Ánh định nhờ đến sự giúp đỡ của Anh, Đức, Bồ Đào Nha và cả Tây Ban Nha nữa.


Nhưng chính vì tấm lòng tận tình giúp đỡ của Bá Đa Lộc trong những lúc “lên voi xuống chó” mà Nguyễn Ánh cuối cùng cũng đã đề nghị vị Giám mục đại diện mình để đi thương lượng với chính quyền Pháp. Kết quả là vào mùa xuân 1785, Bá Đa Lộc qua đến Pondichery (Ấn Độ). Trong chuyến đi này, ngài có mang theo hai bảo vật nói lên lòng tin cẩn cực kỳ của Nguyễn Ánh: bảo ấn của dòng họ Chúa Nguyễn và Hoàng Tử Cảnh – con trai độc nhất của nhà vua.


Kể từ đây, sự nghiệp của vị Giám mục Bá Đa Lộc bước vào một giai đoạn mới, đóng vai “sứ giả” của Chúa Nguyễn để thương lượng với triều đình Pháp. Với một lòng hăng say muốn rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Bá Đa Lộc xem đây như là dịp may để Nước Chúa được mở mang. Một khi Nhà Nguyễn tái thiết ngôi vị, Việt Nam sẽ được tự do theo Đạo Công Giáo, và Pháp cũng sẽ được tự do buôn bán tại các cửa biển Việt Nam. Nhưng khi Bá Đa Lộc đến gặp đại diện Pháp ở Pondichery, những lời đề nghị này bị bác bỏ ngay, không ai thèm chú ý đến. Sau bốn tháng đấu tranh cực liệt, đưa ra đủ lý luận để thuyết phục các tướng lãnh Pháp nhưng đã không đem lại kết quả nào, Bá Đa Lộc quá bực bội, quyết định đi đến tận Paris để điều đình trực tiếp với Hoàng Gia Pháp.


Thiếu may mắn ở Pondichery nhưng Bá Đa Lộc đã gặt hái được nhiều kết quả bất ngờ tại Paris. Trước điện Versaiiles, Bá Đa Lộc đã dùng sự hiểu biết về tình thế chính trị, kinh tế, địa dư và quân sự ở Á Đông, cùng với tài hùng biện ăn nói khôn ngoan của mình để thuyết phục triều thần và công hầu Pháp. Các bà hoàng Pháp bắt đầu cảm mến tài giảng thuyết của ngài và nhất là sự có mặt của cậu hoàng tử “khôi ngô tuấn tú” bảy tuổi bên cạnh để làm chứng. Với giới quân sự, Bá Đa Lộc tuyên bố rằng Pháp sẽ được tự do ra vào các cửa biển dọc của Việt Nam, và Việt Nam sẽ cung cấp lính tráng nếu Pháp phải lâm vào chiến tranh với các thuộc địa khác. Trước mắt các thương gia, Bá Đa Lộc đề nghị rằng nếu nắm được Biển Đông, Pháp sẽ kiểm soát tàu bè thương mại Anh từ Ấn Độ qua Trung Hoa, và sẽ kiểm soát được những nguồn lợi tài chánh mà đã giúp thủy quân Anh bành trướng mạnh mẽ trên khắp thế giới.


Một số công thần thủ cựu chống đối đề nghị của vị Giám mục truyền giáo này, nhưng cũng có một số khác với đầu óc mạo hiểm muốn hợp tác. Cuối cùng Bá Tước Montmorin, một trong phái thủ cựu, được trao bổn phận soạn thảo một bản nghị ước mà Vua Louis XVI và Bá Đa Lộc thay mặt cho Chúa Nguyễn sẽ cùng ký vào. Theo tờ Nghị Ước Versailles (1787) này, Pháp sẽ cung cấp 1650 thủy quân cùng với bốn chiến hạm, súng đại bác, súng tay,… Ngược lại, sau khi lập xong cơ nghiệp, Chúa Nguyễn phải nhường lại cho Pháp đảo Côn Lôn, cho Pháp thuê và được độc quyền tự do buôn bán tại cửa biển Đà Nẵng, cung cấp lính tráng trong trường hợp Pháp cần, và mỗi năm phải đóng một tàu thủy quân để hoàn lại những tàu mà hoàng gia Pháp đã “cho mượn”.


Một thiếu sót lớn lao trong Nghị Ước Versailles (1787) là quyền các giáo sĩ Pháp được tự do giảng đạo Kitô ở Việt Nam! Nhưng đây không phải là điều quan trọng đối với triều đình Pháp. Montmorin kèm theo một thư tay ra lệnh cho thống đốc Pháp ở Pondichery thi hành theo tờ Nghị Ước đã ký kết; nhưng vì còn nghi ngờ tài năng của vị Giám mục, trước khi đóng thư Montmorin còn viết thêm: “Hoàng Đế Pháp đặt hết tin tưởng vào sự phán đoán của ông trong việc này, nhưng ta yêu cầu ông đừng báo cho Bá Đa Lộc biết ý riêng này!” Thống đốc Piondichery vốn là người đã bác bỏ đề nghị của Bá Đa Lộc trước khi ngài đến Paris xin cầu viện. Thế là chỉ trong vòng bốn ngày sau khi ký kết, tờ Nghị Ước Versailles trở thành vô giá trị!


Vẫn chưa biết những ác ý này, Bá Đa Lộc vội vàng và hăng hái cầm tờ Nghị Ước “còn ướt mực” với lá thư tay của Montmorin đi Pondichery để lấy tàu bè, đạn dược mong thực thi giấc mộng vàng. Nhưng khi đến nơi thì hỡi ôi! Sau khi đọc bản Nghị Ước Versailles và nhất là lá thư viết tay của Montmorin, vị thống đốc chỉ trả lời Bá Đa Lộc bằng một sự lạnh lùng tiêu cực. Nóng giận, Bá Đa Lộc tranh đấu hết mình nhưng không đi đến đâu cả. Ngài khiếu nại về triều đình Pháp ở Paris, nhưng mãi đến đầu năm 1789 mới nhận được một tin từ Paris là “chiến dịch này không thể thi hành được!” Trong đó còn có một lá thư hứa sẽ giúp Bá Đa Lộc phương tiện trở về Pháp một cách an toàn. Không ai còn nghi ngờ gì nữa ý định của triều đình Pháp không muốn dính líu đến Việt Nam lúc này. Biết chắc là mình đã bị “chơi xỏ” và chắc chắn sẽ không còn nhờ vào được ai nữa, vị Giáo Sĩ này quyết định làm một việc táo bạo chưa từng có trong lịch sử truyền giáo Á Đông. Ngài quyết định nắm mọi việc vào tay, thi hành một mình như chính ngài đã có lần tuyên bố: “Ta sẽ làm cách mạng ở Đông Dương một mình ta!” Cuộc cách mạng này sẽ xảy ra như thế nào? Tương lai Bá Đa Lộc sẽ đi về đâu? Đây là các câu hỏi cho phần kế tiếp.


3. Giai đoạn hành động (1789-1799)


Trước một thất bại đau đớn sau khi đã dự tính kỹ lưỡng và vận động hết mình để thuyết phục triều đình Pháp mà không đi đến đâu, Bá Đa Lộc đành phải ra tay một mình, không để mất giây phút nào. Ngài vận động quyên tiền khắp nơi để mua tàu bè, đạn dược giúp cho Chúa Nguyễn. Thế là kể từ năm 1789 một số tàu bè hải quân trang bị súng ống, đạn dược đầy đủ, với một số binh sĩ “đào ngũ” từ quân đội Pháp, bắt đầu trên đường tiến về Việt Nam. Hai chiếc tàu thủy quân đầu tiên cập bến Sài Gòn vào ngày 19 tháng 7 năm 1789, bốn tuần trước Cách Mạng Pháp bùng nổ ở Paris. Đích thân Nguyễn Ánh ra bến tàu, chào đón đoàn thủy quân một cách trọng thể. Trong lúc đó, súng canh-nông bắn vang dội từng hồi để chào đón sự trở lại của Giám mục Bá Đa Lộc. Ngoài một số giáo sĩ đi theo ngài về Việt Nam (8 linh mục), còn có các chuyên viên quân sự và cơ khí, thủy binh, bộ binh, tổng cộng trên 300 người, giúp cho thế lực Nguyễn Ánh càng ngày càng mạnh. Để đáp nghĩa ân tình cho vị ân nhân này, Nguyễn Ánh cho xây một ngôi nhà cho vị Giám mục và giáo sĩ đoàn của ngài tá túc. Ngày nay, ngôi nhà này vẫn tồn tại và nằm trong Tòa Giám Mục trên đường Nguyễn Đình Chiểu, thuộc quận Ba, Sài Gòn.


Các chuyên viên Pháp giúp trang bị lại các tàu hải quân Chúa Nguyễn thành một thủy đoàn sẵn sàng tác chiến trên biển cả. Trên bờ cũng cho thiết lập những đồn lũy vững chắc tại Gia Định và những địa thế hiểm nghèo khác. Họ tổ chức bộ binh một cách chu đáo hơn, trang bị với một số súng đạn mới mua. Sử gia Pháp thích thổi phồng tầm quan trọng của người Pháp trong cuộc giúp Chúa Nguyện thành công về mặt quân sự. Nhưng thật ra chính Chúa Nguyễn cũng đã rút tỉa rất nhiều kinh nghiệm chiến trường trong mười mấy năm qua và nhất là nhờ biết lợi dụng gió mùa để đóng buồm tiến đánh Tây Sơn. Hơn nữa, cái lợi của Nguyễn Ánh là vì lòng dân còn oán hận nạn bắt đạo ráo riết trong đất Tây Sơn, cộng với lòng cảm mến Chúa Nguyễn qua những bài ca dao trong dân gian:


Lạy Trời cho chóng gió nồm

Cho thuyền Chúa Nguyễn thuận buồm qua khơi.


Sau nhiều năm giúp Chúa Nguyễn kéo buồm đi đánh Qui Nhơn (1790-1799) không thành công, Bá Đa Lộc cũng hơi nản chí, bắt đầu nghi ngờ có lẽ mình đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào vị vua trẻ này. Các lính “đào ngũ” đi theo Bá Đa Lộc sau năm đầu cũng từ từ “đào ngũ” gần hết, và hơn phân nửa số giáo sĩ Pháp đến cùng với ngài cũng đã qua đời vì không chịu nổi khí hậu miền nhiệt đới. Về phần Nguyễn Ánh thì từ khi nắm được thế chân vững chắc ở Sài Gòn, giờ đây sau mười mấy năm bôn ba đây đó vị chúa trẻ trung này bắt đầu đam mê tửu sắc, chơi bời, không còn thao thức cho lắm với giấc mộng lập quốc ngày nào. Nhiều lúc Bá Đa Lộc ngăn cản không được, nổi giận đòi trở về Pháp. Chỉ lúc ấy, Nguyễn Ánh mới thức tỉnh mà tiếp tục công cuộc thôn tính Nhà Tây Sơn.


Mãi đến cuối năm 1799, khi Qui Nhơn – bàn đạp của nhà Tây Sơn, bị sụp đổ, từ đó Chúa Nguyễn mới tiến đánh miền bắc một cách dễ dàng. Tuy nhiên sự thành công cuối cùng này đến quá trễ cho Bá Đa Lộc. Mặc dù mang trong người bệnh kiết lỵ trường kỳ, Bá Đa Lộc luôn tháp tùng Chúa Nguyễn trong các trận chiến. Nhưng lần này cơn bệnh thổ tả kéo dài liên miên, vị Giám mục chỉ còn da bọc xương và tắt thở lúc 10:00 sáng ngày 09.10.1799 tại Qui Nhơn. Ngài qua đời trước khi nhìn tận mắt ước nguyện ôm ấp trong 30 năm! Tin tức này được Nguyễn Ánh giữ kín không cho quân sĩ ở chiến trường biết. Trong lúc đó, Hoàng tử Cảnh đã đưa xác vị Thượng Sư trên một chiếc thuyền hoàng gia về Sài Gòn làm Lễ An táng, theo đúng nghi thức Công giáo.


Một khi Qui Nhơn bị thất thủ, ngàu 02.11.1799, Nguyễn Ánh kéo quân cấp tốc về Sài Gòn làm lễ Truy Tang hết sức trọng thể. T