Công đồng Vaticanô II - Sắc lệnh về Đại kết (4)

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Đã xem: 196 | Cật nhập lần cuối: 3/24/2017 10:29:04 AM | RSS | Bản để in | Bản gửi email

(tiếp theo)

II. CÁC GIÁO HỘI VÀ CÁC CỘNG ĐỒNG GIÁO HỘI LY KHAI TÂY PHƯƠNG

19. Các Giáo Hội và các Cộng Đồng Giáo Hội đã tách rời khỏi Tông Toà Rôma trong thời kỳ khủng hoảng trầm trọng nhất phát sinh ở Tây phương vào cuối thời Trung Cổ hoặc về sau này, vẫn luôn nối kết với Giáo Hội Công giáo bằng một mối tương quan và những liên hệ đặc biệt nhờ vào việc đoàn dân Kitô giáo đã sống trong tình hiệp thông Giáo Hội lâu dài suốt những thế kỷ trước.

Các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội ấy chẳng những khác với chúng ta, mà còn khác cả với nhau, do những dị biệt về nguồn gốc, giáo lý và đời sống tu đức, nên rất khó trình bày cho đúng về các Giáo Hội ấy, và ở đây chúng tôi không có ý thực hiện điều đó.

Mặc dù phong trào Đại Kết và ước vọng giao hoà với Giáo Hội Công giáo chưa được đề cao khắp nơi, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng tất cả mọi người sẽ dần dần cảm nhận sâu xa hơn về ý thức đại kết và thái độ tôn trọng lẫn nhau.

Công đồng Vaticanô II - Sắc lệnh về Đại kết (4)

Phải nhìn nhận rằng giữa các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội ấy với Giáo Hội Công giáo có nhiều khác biệt quan trọng, không chỉ về đặc tính lịch sử, xã hội, tâm lý, văn hoá, nhưng nhất là về cách thức giải thích chân lý mặc khải. Để dễ dàng khởi xướng cuộc đối thoại đại kết, dù những khác biệt vẫn còn đó, sau đây chúng tôi muốn đưa ra một vài điều có thể và phải là nền tảng cũng như khởi điểm cho cuộc đối thoại ấy.

20. Chúng tôi đặc biệt nghĩ đến những Kitô hữu đang công khai tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để làm vinh danh một Thiên Chúa duy nhất là Cha, Con và Thánh Thần. Thật ra chúng tôi biết có những khác biệt không nhỏ đối với giáo lý của Giáo Hội Công giáo, cả về Đức Kitô Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, về công trình cứu chuộc, và do đó, về mầu nhiệm và tác vụ của Giáo Hội, cũng như về vai trò của Đức Maria trong công cuộc cứu độ. Tuy nhiên, chúng tôi vui mừng khi thấy các anh em ly khai vẫn hướng về Đức Kitô như là nguồn mạch và trung tâm của sự hiệp thông Giáo Hội. Chính ước vọng kết hiệp với Đức Kitô đã tác động và thúc đẩy họ càng ngày càng tìm về hợp nhất và làm chứng cho niềm tin của mình giữa các dân tộc.

21. Lòng yêu mến, kính trọng và gần như tôn sùng Thánh Kinh đã thúc đẩy những người anh em của chúng ta kiên tâm và chuyên cần học hỏi các Bản Văn Thánh: vì Tin Mừng “là quyền năng Thiên Chúa để cứu rỗi mọi người tin theo, trước tiên là người Do Thái, kế đến là người Hy Lạp” (Rm 1, 16).

Trong khi khẩn cầu Chúa Thánh Thần, họ kiếm tìm Thiên Chúa nơi chính Thánh Kinh, Đấng đang nói với họ trong Đức Kitô, Đấng đã được các tiên tri loan báo và là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể vì chúng ta. Trong Thánh Kinh, họ chiêm ngưỡng cuộc đời Đức Kitô và những gì Thầy Chí Thánh đã dạy và đã làm để cứu rỗi loài người, nhất là mầu nhiệm về sự chết và sự phục sinh của Người.

Tuy nhiên, trong khi các Kitô hữu đã tách rời khỏi chúng ta xác nhận uy thế thần linh của Sách Thánh, họ vẫn cảm nghĩ khác chúng ta - và khác cả với nhau - về sự liên quan giữa Thánh Kinh và Giáo Hội; trong vấn đề này, theo đức tin công giáo, huấn quyền chính thức giữ một vai trò đặc biệt trong việc giải thích và rao giảng Lời Chúa đã được ghi chép.

Nhưng dù sao đi nữa, trong chính việc đối thoại, Lời Chúa là dụng cụ tuyệt hảo nơi bàn tay toàn năng của Thiên Chúa, giúp đạt tới sự hợp nhất mà Đấng Cứu Thế đã bày tỏ cho mọi người.

22. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, được trao ban đúng nghi thức như Chúa đã thiết lập và được lãnh nhận với điều kiện cần thiết của tâm hồn, con người được thật sự tháp nhập vào Đức Kitô chịu đóng đinh và được tôn vinh, đồng thời được tái sinh để thông phần sự sống Thiên Chúa theo lời Thánh Tông Đồ: “Anh em được mai táng với Người trong phép Rửa, anh em cũng sẽ được chỗi dậy với Người, bởi đã tin vào quyền năng Thiên Chúa, Đấng đã cho Người sống lại từ cõi chết” (Cl 2,12) (1).

Vậy phép Rửa tạo nên mối dây bí tích hợp nhất tất cả những người đã được tái sinh. Tuy nhiên, phép Rửa, tự bản chất, mới chỉ là thời điểm bắt đầu và là bước khởi hành, vì đích điểm của bí tích này chính là đạt tới sự sống sung mãn trong Đức Kitô. Như thế, phép Rửa hướng đến việc tuyên xưng trọn vẹn đức tin, gắn kết trọn vẹn vào kế hoạch cứu rỗi như chính Đức Kitô mong muốn và sau cùng hoà nhập trọn vẹn vào sự hiệp thông Thánh Thể.

Những Cộng đồng Giáo Hội đã tách rời khỏi chúng ta, mặc dù không cùng chúng ta hưởng nhận sự hợp nhất đầy đủ khởi sinh từ phép Rửa, và mặc dù chúng ta tin rằng, chủ yếu vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh, họ đã không bảo toàn được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể, nhưng khi tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong nghi thức Tiệc Thánh, họ vẫn tuyên xưng rằng sự sống chỉ có ý nghĩa nhờ hiệp thông với Đức Kitô và luôn mong đợi ngày Người trở lại trong vinh quang. Vì thế, trong cuộc đối thoại, cần thảo luận những chủ đề giáo lý về Tiệc Thánh của Chúa, về các bí tích, việc phụng tự cũng như các thừa tác vụ của Giáo Hội.

23. Đời sống Kitô hữu của các anh em ly khai được nuôi dưỡng bằng đức tin vào Chúa Kitô, được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa và nhờ lắng nghe Lời Chúa. Đời sống ấy được biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Thánh Kinh, trong đời sống gia đình Kitô hữu, trong việc phụng tự của cộng đoàn cùng tụ họp để ngợi khen Thiên Chúa. Ngoài ra, đôi khi việc phụng tự của họ cũng mang những yếu tố nổi bật thuộc nền phụng vụ cổ kính chung.

Đức tin vào Chúa Kitô đã kết sinh hoa trái trong lời ngợi khen và cảm tạ vì các ơn phúc thiêng liêng đã lãnh nhận; thêm vào đó là ý thức mạnh mẽ về đức công bình và tình bác ái chân thành đối với tha nhân. Đức tin sống động ấy cũng làm phát sinh không ít những tổ chức nhằm xoa dịu nỗi khổ đau tinh thần và thể xác, giáo dục giới trẻ, cải thiện những hoàn cảnh xã hội của cuộc sống được nên nhân đạo hơn và củng cố nền hoà bình thế giới.

Mặc dù nhiều Kitô hữu không phải lúc nào cũng hiểu Tin Mừng theo cùng một nghĩa như người công giáo trong những vấn đề luân lý, cũng như không chấp nhận cùng những giải quyết giống nhau về những vấn đề khó khăn của xã hội hiện đại, tuy nhiên, như chúng ta, họ cũng muốn gắn bó với lời của Đức Kitô như là nguồn sức mạnh của đời Kitô hữu và tuân theo lời Thánh Tông Đồ dạy: “Bất cứ điều gì anh em làm, trong lời nói hay trong hành động, anh em hãy làm tất cả nhân danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3, 17). Đây chính là điểm có thể bắt đầu cuộc đối thoại đại kết về việc áp dụng luân lý của Tin Mừng.

24. Sau khi đã trình bày vắn tắt những điều kiện và nguyên tắc hướng dẫn cho việc thực hiện công cuộc đại kết, chúng tôi tin tưởng hướng nhìn tới tương lai. Thánh Công Đồng khuyên các tín hữu hãy tránh bất cứ thái độ nhẹ dạ và nhiệt thành thiếu khôn ngoan nào có thể phương hại đến tiến trình hợp nhất. Thật vậy, hoạt động đại kết chỉ có thể thành tựu được, nếu hoàn toàn và thực sự mang tính công giáo, nghĩa là trung thành với chân lý chúng ta đã lãnh nhận từ các Tông đồ và các Giáo phụ, cũng như phù hợp với đức tin đang được Giáo Hội Công giáo tiếp tục tuyên xưng, đồng thời hướng tới sự sung mãn, nhờ đó Chúa muốn cho Thân Thể Người được tăng trưởng qua các thời đại.

Thánh Công Đồng luôn khẩn khoản nguyện ước cho những sáng kiến của con cái Giáo Hội Công giáo được hoà nhập với những sáng kiến của các anh em ly khai, cùng tiến hành mà không cản trở đường lối của Thiên Chúa Quan Phòng, cũng như không tạo thiên kiến về những tác động sau này của Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, Thánh Công Đồng vẫn ý thức xác tín rằng, ước nguyện thánh thiện muốn hoà giải để hợp nhất toàn thể các Kitô hữu trong một Giáo Hội duy nhất của Đức Kitô, vượt quá sức lực và khả năng loài người. Vì thế, Thánh Công Đồng đặt trọn niềm hy vọng vào lời Đức Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội, vào tình thương của Chúa Cha dành cho chúng ta, và vào quyền năng của Chúa Thánh Thần. “Niềm cậy trông không làm cho thất vọng: vì tình yêu của Thiên Chúa đã được tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 5).

Tất cả và từng điều được ban bố trong Sắc Lệnh này đều đã được các Nghị phụ Thánh Công Đồng chấp thuận. Và, với thẩm quyền tông truyền nhận được từ Chúa Kitô, hợp nhất với các Nghị phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, quyết nghị và xác lập, và những gì đã được xác lập theo thể thức Công Đồng, Chúng Tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.

Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 21 tháng 11 năm 1964
Tôi, PHAOLÔ, Giám mục Giáo Hội Công giáo
(Tiếp theo là chữ ký của các Nghị phụ)

Ủy ban Giáo lý Đức tin
Nguồn: giaolyductin.net

__________________________
Chú thích:

(1) x. Rm 6,4.

* CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II - SẮC LỆNH VỀ ĐẠI KẾT (1)

* CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II - SẮC LỆNH VỀ ĐẠI KẾT (2)

* CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II - SẮC LỆNH VỀ ĐẠI KẾT (3)